(Cảnh báo: Tít bài viết chỉ nhằm mục đích câu khách, có thể không liên quan đến nội dung)
------------------
Bất chợt tôi gặp bài thơ này - Ngươi là ai mà không tán thành Luật Biển? - của một bác tiến sĩ.
Phải nói là tôi giật mình trước những cú đấm túi bụi của tiến sĩ - tác giả bài thơ đanh thép trên. Tôi băn khoăn: Tại sao một nghị sĩ thực hiện một cái quyền hợp pháp của mình lại bị tấn công kinh khủng như thế, ở đất nước đang đói khát dân chủ này?
Và, ông bị tấn công bởi một tiến sĩ.
Tôi thấy ở đây, tác giả bài thơ là một dạng mà bác V.Q.H.Nhiên đã định nghĩa trong bài Cực đoan nhà nước và cực đoan tư nhân: Ai có quan điểm trái ngược ta là kẻ thù của ta.
Thế thì nói gì tới đa nguyên, tới dân chủ, tới tự do nữa.
Dẹp hết đi và trở về bóng tối.
...
Tôi cũng vừa đọc xong luật Biển, dù cái sự hiểu thì chưa thể xong được.
Nói chung, để hiểu luật Biển, cần phải nghiên cứu 208 trang của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), trong đó có 320 điều và một mớ phụ lục. Bởi lẽ những quy định ở luật Biển phải tuân thủ UNCLOS 1982, không được phép mâu thuẫn, vượt quá giới hạn của UNCLOS 1982. Điểm mấu chốt khi soạn luật Biển là, có những nơi mà UNCLOS 1982 quy định chung, thì Việt Nam phải làm sao diễn dịch theo hướng vừa hợp lý, vừa đảm bảo lợi ích tốt nhất cho Việt Nam. Chuyện này là khó nhất, còn những cái mà UNCLOS 1982 đã nêu rõ ràng rồi thì chẳng có gì phải lăn tăn cả.
Ví dụ, UNCLOS quy định quyền tự do đi lại (bao gồm tàu nổi, tàu ngầm, đặt cáp ngầm và vật thể bay...) không gây hại với những tầng mức khác nhau, tùy theo đó là vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), thềm lục địa. UNCLOS quy định vậy, nghĩa là luật Biển Việt Nam không thể cấm tàu bè và máy bay (kể cả quân sự) nước ngoài vi vu trên vùng EEZ của mình. Luật Việt Nam chỉ có thể diễn dịch một số thứ: chẳng hạn như không gây hại là phải như thế nào, muốn đi phải xin phép thế nào... chứ không thể cấm tiệt.
Điều này có nghĩa là gì? Liệu điều đó có phải là: tàu hải giám, tàu hải quân, máy bay tuần thám Trung Quốc có thể vù trên đầu, lướt qua xung quanh các cơ sở kinh tế của Việt Nam trong vùng EEZ Việt Nam, chỉ với một số điều kiện phải tuân thủ: chẳng hạn như không giương súng, không quấy rối (xịt nước, chiếu đèn pha trực diện... như đã từng)?
Chỉ một ví dụ đơn giản vậy thôi cũng đủ thấy việc diễn dịch UNCLOS 1982 làm sao có lợi cho Việt Nam nhất, giảm nguy cơ tới mức thấp nhất, để cụ thể hóa nó vào một văn kiện luật chỉ gồm 9.211 từ bao gồm cả "cộng hòa xã hội...", là vô cùng nan giải và không phải là không có chỗ này, chỗ kia còn thiếu chặt chẽ, còn cần phải được góp ý, hoàn thiện trong những lần điều chỉnh sau.
Các công ước quốc tế luôn có lợi cho kẻ mạnh. Khi luật pháp không còn có lợi cho kẻ mạnh, thì chúng sẽ gây sức ép để thay đổi luật. Những kẻ yếu biết vậy, nhưng không còn cách nào khác là phải bám víu vào luật. UNCLOS 1982 không là ngoại lệ. Văn kiện này được sinh ra để điều chỉnh biên độ luật biển của các nước thành viên, làm cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp trên biển. Tuy nhiên, không thể nhầm lẫn rằng văn kiện này bênh vực nước nhỏ. Nó chỉ là một chiếc phao cứu sinh mà các nước nhỏ buộc phải bám vào, vì không có lựa chọn nào khác, để giảm thiểu sự chèn ép của nước lớn. Nước lớn thì chỉ ký vào công ước quốc tế khi văn kiện đó có lợi cho chúng. Bằng không thì chúng chẳng cần luật làm gì, tự chúng sẽ "hành luật" theo kiểu của chúng, như bác Đông A phân tích ở đây.
Một ví dụ: có thể thấy điều khoản về "đi lại không gây hại" trong UNCLOS 1982 mang về nhiều lợi ích cho Trung Quốc hơn là cho Việt Nam, đó là trong khi tàu bè, máy bay của các lực lượng chấp pháp Việt Nam khó có thể (không dám, không đủ xăng...) để đi vào EEZ Trung Quốc vài ngày một lần thì Trung Quốc có thể tận dụng điều này để thăm viếng EEZ Việt Nam mỗi ngày vài lần mà Việt Nam chẳng thể cấm.
Lòng vòng như vậy để thấy rằng, việc ra mắt luật Biển là một nỗ lực lớn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước của Việt Nam thông qua việc thể chế hóa hầu hết các ý chí chủ quyền, trong đó có vấn đề mấu chốt: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng đồng thời, cũng cần phải nhận thấy rằng luật Biển không đơn thuần chỉ là "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam", mà còn nhiều điều khoản khác, với sự phức tạp về pháp lý rất cao, chứ không đơn thuần là những tuyên bố chính trị. Ở chỗ này, chỗ kia, luật Biển có thể còn những điều phải bổ sung, hoàn thiện. Thế nên, trong khi dân chúng ủng hộ luật Biển chủ yếu bởi góc độ chính trị của nó, thì từ góc nhìn của nhà lập pháp, một nghị sĩ có thể bỏ phiếu chống luật Biển.
Ông ta bỏ phiếu chống (hoặc trắng, cứ giả sử như vậy đi, ở đây tạm thời loại trừ khả năng ông ta bị bệnh đột xuất hoặc những cơ chế bỏ phiếu đặc thù của Quốc hội Việt Nam) không nhất thiết là ông ta chống lại lập trường "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam". Ông ta có thể là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thật, nhưng cũng có thể ông ta có những lý do khác. Ông ta có thể chống sự ra đời của luật Biển bởi ông ta không đồng tình với một số điều khoản nào đó, ông ta muốn nó được hoàn thiện hơn, hoặc ông ta cho rằng thông qua văn kiện này trong bối cảnh hiện nay là không có lợi, hoặc bất kỳ lý do nào khác mà một nhà lập pháp có thể nghĩ tới.
---
Quan trọng hơn hết, như đã nói ở phần đầu, ông ta đã thực hiện sự phản đối của mình bằng một hành vi đúng pháp luật, nếu như không muốn nói là cần khuyến khích trên tinh thần dân chủ, đa nguyên. Nếu lá phiếu của ông ta đi ngược lại với sở nguyện của những cử tri đã bỏ phiếu bầu ông ta, thì chính những cử tri đó sẽ phế truất người mà theo họ là không còn xứng đáng đại diện cho mình nữa.
Bản chất xã hội luôn đa nguyên, "năm người mười ý", không bao giờ có một sự đồng thuận tuyệt đối. Quốc hội cũng rứa, nếu như quốc hội ấy thực sự dân chủ.
Trong một nghị viện dân chủ thực sự, thật khó mà có một tỉ lệ phiếu 100% thuận, hoặc 100% chống. Trong khi đó, cái tỉ lệ này từng là một điều gì đó rất quen thuộc ở Việt Nam, và chúng ta đều biết rằng đã có một sự dàn xếp phi dân chủ trước các cuộc bỏ phiếu. Vậy mà, khi một nghị sĩ dùng quyền bỏ phiếu của mình để chống lại một dự luật lại bị tố là Việt gian. Bị chụp mũ cái rụp vậy, chứ không phải bằng những lập luận để thuyết phục ông nghị sĩ kia rằng ông bỏ phiếu chống là sai, là cả nghĩ, là thấy ngắn mà không thấy dài, thấy tiểu tiết mà không thấy tổng thể.
Nếu cứ "mần chắc" kiểu này, thời kỳ đấu tố sẽ tiếp diễn ở tương lai.
Còn ước nguyện dân chủ - đa nguyên thì, đừng hòng!
13.8.12
11.8.12
Người Việt Nam nhược tiểu đang rất lo sợ mình bị biến thành nước Lào...
Người Việt thì luôn luôn trịch thượng với Lào, dù ngoài mồm cứ gọi là "anh em hữu nghị". Chuyện này không phải mới.
Thuở xưa, các vua xứ Đại Việt hễ mỗi lần rảnh tay rảnh chân (tức không bị Tàu quýnh) là y như rằng sẽ xách quân đi thảo phạt Ai Lao chỉ với lý do: "Sao lâu rày không thấy chú mầy cống nạp?"
Người Việt có thứ gì xấu xa cũng đều đổ vấy cho Lào.
Ấy vậy mà bây giờ đây, những người Việt kiêu hãnh lại đang tỏ ra, hơn bao giờ hết, sợ mình trở thành một nước Lào thứ hai của xứ Đông Nam Á.
"Nước Lào thứ hai" có nghĩa là quốc gia không có biển.
Liếc qua facebook hoặc các blog một lượt, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp không biết cơ man nào là status, là entry, là câu chú thích ám ảnh (hay cám cảnh): "Mình dẫn con đi tắm Vũng Tàu đây, kẻo nay mai muốn tắm lại phải xin visa"; "Mình tranh thủ ăn hải sản đây, kẻo mai..."; "Mình mua rượu hải mã để dành đây, kẻo mai...".
Những than thở đẫm mùi nhược tiểu này, trong thời buổi hiện nay, lại đang được hiểu, một cách phổ biến, là nỗi niềm vì vận mệnh Tổ quốc. Cách đây ít lâu, thuở năm ngoái năm kia gì đó, thậm chí có anh trí thức còn ưỡn ngực ra trên blog. Anh ưỡn ngực, chỉ bởi trên chiếc án thun của anh có dòng chữ: "Ngày mai không biết có còn được ăn cá biển Đông hay không?".
Cũng có một dạng thức khác, nơi mà những trở trăn biến thành lạc quan hài: "Các chú chớ quá lo mà tổn thọ, mai này mua đồ biển Tàu Khựa có khi lại rẻ hơn"...
Thế đấy!
Hôm nọ hôm kia, thằng bạn ngang ngạnh của mình đã quất thẳng vào mặt một tâm hồn trăn trở vì vận nước (cũng bạn mình nốt), rằng: "Tại sao mày nhược tiểu thế? Sao lại phải nghĩ tới chuyện xin visa mà không dám quyết rằng bất cứ thằng nào bén mảng tới đây là tao đánh cho chạy mất dép?". Tâm hồn ưu tư mới trợn trừng mắt, rồi cười khinh khỉnh: "Mày đừng có lạc quan tếu. Vận nước đang đến hồi nguy nan. Mày ngồi trong phòng lạnh thì biết đéo gì". Thế là thằng bạn ngang tàng của mình phải ngậm tăm, tự biết rằng trình trăn trở và yêu nước của mình chưa đủ level.
Một không khí bi ai, bi quan và bi đát có thể nói là đang lan tỏa khắp đất nước, đậm đặc hơn là ở trên mạng.
Đến đây mình chợt nhớ tới sự kiện Buffet Saigon. Trong một bữa buffet tối ở một quán hải sản khá sang trọng giữa nơi từng là Hòn ngọc Viễn Đông, những con người khá nhiều tiền và có vẻ ngoài lịch lãm đã lao vào, xâu xé, kêu réo, chỉ để giành lấy cho mình vài con tôm sống, một khoanh mực ống hay vài chú hàu sần sùi mà người phục vụ mới đem tới. Nhiều em thủy tộc nhỏ bé thậm chí chưa kịp hạ cánh xuống khay đã được những đôi tay nhanh nhảu đón lấy.
Thiên hạ bên ngoài được một phen dè bĩu: "Ăn uống hay ăn cướp vậy bây?"; "Một lũ đói năm 1945!"; "Thật là vô văn hóa quá đi!"... Người Sài Gòn từng khinh bỉ cảnh dân Hà Nội cháo chém phở chửi, ngắt nhành hoa anh đào..., bây giờ đây được một phen e lệ đến bẽ bàng: "Sài Gòn mà như thế này ư?!". Có người lại AQ chính truyện: "Đó là dân du lịch đấy, từ tỉnh lên, từ Bắc Giang, Lào Cai vào, đếch phải dân Sài Gòn của tao!".
Có một điểm chung là, tất cả những người bình phẩm đều tin chắc 100%, rằng mình sẽ không làm như thế. Bởi, mình văn minh, lịch sự, văn hóa có thừa. Mình thanh cao.
Ai cũng thanh cao cả, vậy thì những người hồn nhiên trong sự kiện Buffet Saigon ấy đến từ đâu? Câu hỏi lớn này, bản thân mình chưa có lời đáp.
Tuy nhiên, có một điều ẩn chứa đằng sau bữa buffet bão bùng đó mà người ta ít để ý mổ xẻ. Đấy chính là nỗi ám ảnh về biển, chính xác hơn, là nỗi ám ảnh mất biển.
- Gắp chú tôm hùm kia lẹ lên con, kẻo mai mốt phải ăn hàng đông lạnh nhập khẩu made in China đấy!
- Ẻm mực trứng cuối cùng còn mang quốc tịch Việt Nam kìa, nhanh tay lên cưng!
- Ui chao, cá mú Trường Sa đó anh, gắp lẹ kẻo vào tay thằng hàng xóm giờ*!...
Vân vân...
Trong bữa tiệc hôm ấy, những mệnh lệnh như vầy đã không ngừng vang lên. Tin hay không, tùy bạn.
Niềm trăn trở trước vận nước bỗng chốc biến thành một cơn quay cuồng nơi bàn tiệc. Nếu nhìn từ góc độ này, sẽ dễ thấy rằng cuộc truy hoan tưng bừng rộn rã kia là một cơn thăng hoa của những ưu tư về biển đảo Tổ quốc, nói trắng ra là của lòng yêu nước.
Cơn cuồng loạn ấy không phải là biểu hiện của văn hóa suy đồi. Hãy tự hào về nó!
--------------
* Hàng xóm có thể được hiểu là Tàu Khựa hoặc đơn giản là cái thằng háu ăn đang đứng bên cạnh, hehe!
Thuở xưa, các vua xứ Đại Việt hễ mỗi lần rảnh tay rảnh chân (tức không bị Tàu quýnh) là y như rằng sẽ xách quân đi thảo phạt Ai Lao chỉ với lý do: "Sao lâu rày không thấy chú mầy cống nạp?"
Người Việt có thứ gì xấu xa cũng đều đổ vấy cho Lào.
Ấy vậy mà bây giờ đây, những người Việt kiêu hãnh lại đang tỏ ra, hơn bao giờ hết, sợ mình trở thành một nước Lào thứ hai của xứ Đông Nam Á.
"Nước Lào thứ hai" có nghĩa là quốc gia không có biển.
Liếc qua facebook hoặc các blog một lượt, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp không biết cơ man nào là status, là entry, là câu chú thích ám ảnh (hay cám cảnh): "Mình dẫn con đi tắm Vũng Tàu đây, kẻo nay mai muốn tắm lại phải xin visa"; "Mình tranh thủ ăn hải sản đây, kẻo mai..."; "Mình mua rượu hải mã để dành đây, kẻo mai...".
Những than thở đẫm mùi nhược tiểu này, trong thời buổi hiện nay, lại đang được hiểu, một cách phổ biến, là nỗi niềm vì vận mệnh Tổ quốc. Cách đây ít lâu, thuở năm ngoái năm kia gì đó, thậm chí có anh trí thức còn ưỡn ngực ra trên blog. Anh ưỡn ngực, chỉ bởi trên chiếc án thun của anh có dòng chữ: "Ngày mai không biết có còn được ăn cá biển Đông hay không?".
Cũng có một dạng thức khác, nơi mà những trở trăn biến thành lạc quan hài: "Các chú chớ quá lo mà tổn thọ, mai này mua đồ biển Tàu Khựa có khi lại rẻ hơn"...
Thế đấy!
Hôm nọ hôm kia, thằng bạn ngang ngạnh của mình đã quất thẳng vào mặt một tâm hồn trăn trở vì vận nước (cũng bạn mình nốt), rằng: "Tại sao mày nhược tiểu thế? Sao lại phải nghĩ tới chuyện xin visa mà không dám quyết rằng bất cứ thằng nào bén mảng tới đây là tao đánh cho chạy mất dép?". Tâm hồn ưu tư mới trợn trừng mắt, rồi cười khinh khỉnh: "Mày đừng có lạc quan tếu. Vận nước đang đến hồi nguy nan. Mày ngồi trong phòng lạnh thì biết đéo gì". Thế là thằng bạn ngang tàng của mình phải ngậm tăm, tự biết rằng trình trăn trở và yêu nước của mình chưa đủ level.
Một không khí bi ai, bi quan và bi đát có thể nói là đang lan tỏa khắp đất nước, đậm đặc hơn là ở trên mạng.
Đến đây mình chợt nhớ tới sự kiện Buffet Saigon. Trong một bữa buffet tối ở một quán hải sản khá sang trọng giữa nơi từng là Hòn ngọc Viễn Đông, những con người khá nhiều tiền và có vẻ ngoài lịch lãm đã lao vào, xâu xé, kêu réo, chỉ để giành lấy cho mình vài con tôm sống, một khoanh mực ống hay vài chú hàu sần sùi mà người phục vụ mới đem tới. Nhiều em thủy tộc nhỏ bé thậm chí chưa kịp hạ cánh xuống khay đã được những đôi tay nhanh nhảu đón lấy.
Thiên hạ bên ngoài được một phen dè bĩu: "Ăn uống hay ăn cướp vậy bây?"; "Một lũ đói năm 1945!"; "Thật là vô văn hóa quá đi!"... Người Sài Gòn từng khinh bỉ cảnh dân Hà Nội cháo chém phở chửi, ngắt nhành hoa anh đào..., bây giờ đây được một phen e lệ đến bẽ bàng: "Sài Gòn mà như thế này ư?!". Có người lại AQ chính truyện: "Đó là dân du lịch đấy, từ tỉnh lên, từ Bắc Giang, Lào Cai vào, đếch phải dân Sài Gòn của tao!".
Có một điểm chung là, tất cả những người bình phẩm đều tin chắc 100%, rằng mình sẽ không làm như thế. Bởi, mình văn minh, lịch sự, văn hóa có thừa. Mình thanh cao.
Ai cũng thanh cao cả, vậy thì những người hồn nhiên trong sự kiện Buffet Saigon ấy đến từ đâu? Câu hỏi lớn này, bản thân mình chưa có lời đáp.
Tuy nhiên, có một điều ẩn chứa đằng sau bữa buffet bão bùng đó mà người ta ít để ý mổ xẻ. Đấy chính là nỗi ám ảnh về biển, chính xác hơn, là nỗi ám ảnh mất biển.
- Gắp chú tôm hùm kia lẹ lên con, kẻo mai mốt phải ăn hàng đông lạnh nhập khẩu made in China đấy!
- Ẻm mực trứng cuối cùng còn mang quốc tịch Việt Nam kìa, nhanh tay lên cưng!
- Ui chao, cá mú Trường Sa đó anh, gắp lẹ kẻo vào tay thằng hàng xóm giờ*!...
Vân vân...
Trong bữa tiệc hôm ấy, những mệnh lệnh như vầy đã không ngừng vang lên. Tin hay không, tùy bạn.
Niềm trăn trở trước vận nước bỗng chốc biến thành một cơn quay cuồng nơi bàn tiệc. Nếu nhìn từ góc độ này, sẽ dễ thấy rằng cuộc truy hoan tưng bừng rộn rã kia là một cơn thăng hoa của những ưu tư về biển đảo Tổ quốc, nói trắng ra là của lòng yêu nước.
Cơn cuồng loạn ấy không phải là biểu hiện của văn hóa suy đồi. Hãy tự hào về nó!
--------------
* Hàng xóm có thể được hiểu là Tàu Khựa hoặc đơn giản là cái thằng háu ăn đang đứng bên cạnh, hehe!
| Phản ứng: |
10.8.12
Lý Chuẩn cùng đội tàu của Trung Quốc đã làm gì ở Hoàng Sa vào năm 1909?
Bản đồ do người Hà Lan vẽ cuối thế kỷ 16, cho thấy Hoàng Sa thuộc Việt Nam
Sử sách Trung Quốc có ghi lại sự kiện đô đốc Lý Chuẩn được lệnh ra "Tây Sa" vào năm 1909. Chuyến đi này được gọi là "thị sát Tây Sa". Mạng của Bộ Đối ngoại Đài Loan thì viết: "Năm 1909, Thống đốc Trương Nhân Tuấn của tỉnh Quảng Đông sai vị phó của mình là tướng Ngô Kính Vinh cùng một hải đội 170 người ra khám phá quần đảo. Họ đã thượng quốc kỳ ở đấy." Tức là, theo tài liệu của Trung Quốc và Đài Loan, thì vào năm 1909, hai vị tướng Trung Quốc là Lý Chuẩn và Ngô Kính Vinh đã ra Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) để "thị sát" và "thượng kỳ" (có nơi còn thêm chi tiết "bắn súng").
Theo sử sách và các bản đồ Trung Quốc, thì trước năm 1909, Trung Quốc chưa biết gì về Hoàng Sa, chứ đừng nói tới Trường Sa rất xa ở phương nam. Giới hạn xa nhất về phía nam của đất nước Trung Quốc là đảo Hải Nam, như đã thể hiện trên nhiều tấm bản đồ thời Thanh. Nói hết vấn đề thì rất phức tạp và mình không đủ khả năng. Ở đây chỉ đặt ra một dấu hỏi: Năm 1909, Chuẩn và Vinh đã ra Hoàng Sa làm gì?
Báo Tuổi Trẻ mới đây khi viết về chuyến đi của Lý Chuẩn đã nhận xét rằng: "Đó chỉ là chuyến đi mang tính chất “cưỡi ngựa xem hoa”, không hề lưu dấu hay để lại một dấu tích hoặc luận chứng lịch sử cụ thể trên những điểm mà họ đi qua.“ Tức là Chuẩn (và Vinh) chỉ ra hóng hớt một chặp rồi về, chẳng có ý khẳng định chủ quyền gì cả.
Bác Nguyễn Kim cũng viết ở đây: "Có thể khẳng định rằng chuyến “thị sát Tây Sa” của Đô đốc Lý Chuẩn vào năm 1909 không có ý nghĩa pháp lý nào, không phải là hành vi xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và càng không thể được coi là chứng cứ chứng minh Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành “quản hạt sớm nhất và thực thi chủ quyền sớm nhất” đối với quần đảo này."
Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao thì cho rằng Lý Chuẩn khi lên đảo đã bắn pháo và thượng kỳ, thể hiện sự tuyên bố về chủ quyền (như thông tin mà sử sách Đài - Trung đã viết), tức là chuyến đi này không phải "cưỡi ngựa xem hoa". Từ đó, ông Thao chỉ ra: "Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?" (Kiểu như Côn Đảo từ lâu đã là của Việt Nam rồi, một hôm đẹp trời nào đó, bác Phùng Quang Thanh đi chuyên cơ ra sân bay Cỏ Ống, thượng cờ rồi bắn đại bác tuyên bố chủ quyền, như vậy thì thật là "quỡn").
Nếu như đặt luận cứ của ông Thao vào hoàn cảnh lịch sử là trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 (tức là khoảng thời gian Chuẩn ra Hoàng Sa), Việt Nam (thuộc Pháp) đang có chủ quyền trên Hoàng Sa (kế thừa chủ quyền của các đời vua chúa nhà Nguyễn trước đó), thì sẽ thấy rõ ràng Chuẩn đã lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền trên một lãnh thổ đã có chủ (Việt Nam), tức hành động tuyên bố chủ quyền đó là phi pháp.
Tiến sĩ Nguyễn Thừa Hỷ, trên mạng của Bộ Thông tin - Truyền thông Việt Nam, cũng viết rằng năm đó Chuẩn ra đảo với ý định tuyên bố chủ quyền (lần đầu tiên).
Tất nhiên là năm đó Chuẩn ra để "cưỡi tàu xem cá" hay là tuyên bố chủ quyền thì đều không thay đổi được sự thực là lúc bấy giờ Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ lâu rồi). Nhưng việc đánh giá đúng bản chất chuyến đi của Chuẩn có thể giúp Việt Nam có nhiều cơ sở vững chắc hơn để bẻ gãy các luận cứ áp đặt của Trung Quốc.
| Phản ứng: |
Subscribe to:
Posts (Atom)
