6.2.12

Đầu năm bàn chuyện làm tình hay Người Việt quất nhau, từ bóng tối ra ánh sáng

(Tôn trọng tác quyền, xin nói ngay rằng cái tít này là mượn theo phong cách của Bác Hồ.)

Lâu rồi không lóc leo, gần đây mới vô lại, thấy thiên hạ lên viu ầm ầm còn miềng thì tụt hậu mà sốt ruột. Đêm về vắt óc kiếm một đề tài thật giật gân nhằm câu viu.

Euréka!


--------------

Người Việt rất hủ nho và đạo đức giả nên chi quất nhau là một chuyện cực kỳ tế nhị, nhạy cảm. Các "vật dụng" liên quan tới trò quất nhau - như con ku, cái bướm - thường được nói trại đi, không bao giờ gọi đúng tên cả. Nào là chim, bướm; nào là dương vật, âm hộ; nào là cần tăng dân số, tòa thiên nhiên... vân vân và vân vân... Ngay một công cụ bảo vệ an toàn cho hoạt động quất nhau là bao cao su cũng phải được nói trại đi, đại khái là áo mưa, nghe rất phản cảm vì khiến người ta mất hứng. Còn động từ diễn tả hành động quất nhau thì luôn bị khinh miệt. Dân Việt khi muốn quất nhau không bao giờ sổ sàng như bọn Tây "I wanna fuck you!", mà thường bóng gió rằng "anh muốn có không gian riêng tư để tâm sự cho thoải mái", "anh muốn hôn em", hoặc nặng đô nhất thì cũng "thôi mình vào khách sạn ngủ trưa cho mát nhé, ngồi đây nóng quá lại buồn ngủ". Dù bồ bịch lâu ngày nhưng khi muốn quất nhau người ta cũng chỉ có thể nói: "mình vào chỗ cũ nhé". Ngay cả khi đang quất nhau thì việc chàng hỏi nàng "em sướng không?" cũng bị coi là tà bu. Còn khi đang mây mưa trăng gió, có mấy người khoái nói tục, thì ở Việt Nam nhiều người coi là chuyện lạ, bệnh lý, thậm chí bị sốc như trường hợp anh này khi chứng kiến cảnh bạn gái rên tục tĩu. (Hehehehe, khổ nhỉ! Không rên thì nó bảo lãnh cảm, rên thì nó sốc! Thân phận gái gú cũng như thân phận mấy ông chính trị gia nhà mình vậy. Không nói thì bị chửi là nghị gật, mà nói thì lại bị chửi là chém gió. Hehehehehe!)

Trong văn thơ, bạo như Hồ Xuân Hương cũng chỉ dám mượn cảnh cái quạt, cá diếc, bánh trôi nước và mấy thứ linh tinh khác để nói cái dục vọng mãnh liệt trong cơ thể của mình. Còn thanh tao như Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm... thì cứ "chàng gần thiếp" mà thôi (đúng ra là chàng mần thiếp, mà mần cũng chưa hẳn). Chính cái lối sử dụng uyển ngữ này mà giới dịch thuật hậu sinh gặp vô vàn khó khăn. Khi dịch khái niệm "chàng gần thiếp" trong thơ Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm sang tiếng Anh, mấy gã dịch giả cứ phang "make love", thế là bị phản ứng rần rần, rằng Nguyễn Du, Thị Điểm thanh tao, đâu có chuyện sổ sàng tục tĩu "làm tình" được. Hehehehe... Mà không chỉ có tao nhân mặc khách, một tên nông dân khố rách áo ôm như Chử Đồng Tử, khi không có quần áo thì cũng lịch sự vùi ku xuống dưới cát bỏng, nhất quyết không chịu lõa lồ dù giữa chốn hoang sơ khỉ ho cò gáy.


Thực ra lâu lâu cũng có không ít thì nhiều người cố gắng trả lại tên cho em, gọi đúng bản chất sự vật hiện tượng, như Phạm Duy với mấy bài "lồn ca", hay gần đây một số thi - văn sĩ cũng xưng tụng lồn - cặc thoải mái. Nói thoải mái là chỉ trong một không gian tương đối thôi, chứ không thể lõa lồ, lồ lộ ra một cách đường đường chính chính được. Ví như bài thơ Lỗ thủng lịch sử của bác Nguyễn Hữu Hồng Minh dù gây sóng gió một thời nhưng nói cho cùng thì cũng phải lay lắt với thân phận bên lề (underground). Cả nhạc tục của Phạm Duy đến nay cũng thế. Bởi lẽ, người Việt cao quý thì không thể lồn - cặc, đụ - đéo một cách công khai được. Muốn làm cái chuyện mà ai cũng muốn kia, xin hãy tắt đèn, kéo rèm và... rên.

Dân Việt bản chất rất tục, ngồi vỉa hè có thể chửi thề thoải mái. Dân ca, tục ngữ có nhiều câu tục như con cá nục. Như dân quê tui có một câu triết lý rất chi là triết lý: "Đàn ông khoái nác chè đặc. Đàn bà khoái cặc thiệt to". Đàn ông quê tui rất khoái nước chè đậm đặc. Hồi xưa nhớ truyện trạng Vĩnh Hoàng, có ông bốc phét là khoan giếng mà xuyên thấu trái đất, sang bên kia trồi lên gặp anh bạn hiền Cuba. Anh Cuba nghe nói dân Vĩnh Hoàng thì hâm mộ, tặng cho "một ly nác chè đựng đụa" (tức là ly nước chè đặc đến mức cắm chiếc đũa vào thì nó dựng đứng lên, không ngã sang một bên). Đó là cái khoái rất đặc trưng của đàn ông quê tui đã được thi vị hóa thành ca dao tục ngữ. Còn cái khoái ở vế thứ hai của chị em phụ nữ thì có giá trị phổ quát, chứ không phải là đặc sản quê tui. Nhưng cũng như nỗ lực của mấy người trên kia, ca dao tục ngữ mà tục tĩu một chút, nói đúng bản chất vấn đề một chút thì vẫn mãi mãi chịu số phận bên lề, chỉ truyền miệng thôi chứ hiếm khi được biên ra. Nói như Bọ Lập thì là "xưa nay đều thế cả".

Trong thời hiện đại, do ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, nhiều bạn trẻ đã tiêm nhiễm thói hư tật xấu, suy đồi đạo đức, không gìn giữ được thuần phong mỹ tục. Cụ thể là các bạn khi vào quất nhau thì không chịu tắt đèn, kéo rèm. Có bạn lý luận rằng khi quất nhau, việc ngắm nhìn các bộ phận của nhau cũng có thể mang lại vô vàn khoái cảm, chứ không chỉ đơn thuần là chuyện nhấp nhô nhấp nhô như các cụ ngày xưa. Quyết liệt hơn, một số anh chị (chỗ này có sửa lại, theo góp ý của một bạn là không nên nhắc lại chuyện cũ) còn ghi lại cảnh quất nhau bằng hình ảnh và âm thanh hết sức sống động rồi bốt lên mạng cho bà con năm châu thưởng lãm. San sẻ cái sướng của mình cho thiên hạ là việc hay ho, nhiều bạn trẻ lập luận. Thế là, văn hóa quất nhau của người Việt mấy ngàn năm qua chìm trong bóng tối, màn che, giờ đã được một thế hệ hãnh tiến đưa ra ánh sáng.

Đến đây, tui chợt nhớ tới nghi lễ này. Số là ở xã Tứ Xã (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ), người dân còn giữ được một lễ hội rất chi là sexy gọi là hội Trò Trám hay là Linh tinh tình phộc (tôi nghi chữ phộc này bà con với chữ fuck bên nước Anh). Ở miếu Đụ Đị, người ta lưu giữ một con ku và một cái bướm bằng gỗ trong "mật thất". Đến nửa đêm một ngày sau tết âm lịch, khi lễ hội diễn ra, sau vài nghi lễ công khai là đến lễ mật. Cụ thủ từ vô phía trong đem ku và bướm gỗ ra, trao cho một chàng và một nàng (nghe đâu còn trinh nhưng có trời mà biết. Đính chính: một chuyên gia ngoài bắc vừa đính chính cho tui là hai người đâm đều sồn sồn, không phải bọn trẻ. Xin lỗi bạn đọc và cảm ơn chuyên gia). Đoạn đèn nến phụt tắt, cụ hô "linh tinh tình phộc” (tức let's fuck! nếu bạn muốn dịch ra tiếng Anh), thế là chàng trai cầm ku đâm vào bướm cô gái trong bóng tối (ku bướm ở đây bằng gỗ hết). Vì trời tối (đèn nến tắt hết), nên chuyện đâm trúng đâm trật có phần hên xui. Nếu trúng cả ba phát thì năm đó mùa vụ tốt tươi, bằng không thì mệt mỏi à nha (nếu ku bướm thiệt thì dù trời tối như mực cũng không hề gì. Hehe!). Một nghi lễ dân gian hết sức thú vị, nhưng dù là dân có gian cách mấy, thì khi quất nhau cũng phải tắt đèn. Khi đôi trai gái kia đâm nhau, đèn nến phụt tắt. Truyền thống xưa nay là vậy. Đã làm tình thì phải tắt đèn. Đó chính là ý nghĩa cốt tử của nghi lễ này. Vì sao các cụ nông dân ở Phú Thọ gọi đó là "lễ mật", chắc đến đây bà con đã hiểu.

Quất nhau là chuyện bí mật, theo truyền thống Việt Nam, chứ không phải chuyện công khai như "truyền thống" mới du nhập thời @ (chỗ này có sửa lại, theo góp ý của một bạn là không nên nhắc lại chuyện cũ).

Tuy nhiên, dưới con mắt mấy nhà báo, thì nghi lễ dân gian đầy ý nghĩa này chỉ đáng giá một trò câu khách. Thế là mấy anh kêu cụ thủ từ thắp sáng đèn lên, chàng trai cô gái kia cứ đâm nhau dưới ánh đèn rạng ngời chói lóa, trước cặp mắt của muôn người để phóng viên chụp ảnh cho đẹp, tung lên báo đặng câu viu. Một trò hấp dẫn như sex show bên Thái Lan thế này, nếu chỉ tả bằng bút mực bàn phím thì độ nóng bỏng hao hụt đến tám chín phần. Phải có hình ảnh mới mấu. Mà không chỉ có hình chụp đâu, cách đây vài năm, tiến sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện còn cho làm một video clip nữa. Cảnh dập nhau trước ống kính của chuyên gia bảo tồn văn hóa dân gian này cứ rõ mồn một. Coi mà nóng cả mặt.

Khi những ảnh chụp, clip này được đưa lên báo, lên blog, thì viu lên ầm ầm. Nhưng e rằng, cái lễ hội Linh tinh tình phộc kia, với đầy đủ ý nghĩa dân gian của nó, với ý niệm của người Việt rằng quất nhau là chuyện đèn tắt, rèm che, đến đây là chấm dứt.




2.2.12

Hương trà ở Maruyama




Buổi sáng mùa xuân. 

Tuyết đã tan gần hết trên đường làng Maruyama. Tôi thức dậy, lười nhác chui ra khỏi tấm chăn ấm khi gói than hoạt tính đã nguội ngắt. Sau những ly rượu saké ấm nồng cùng món lẩu nabemono có nấm hương (shiitake) thơm phức tại nhà Akari hồi tối hôm trước, tôi đã có một đêm ngủ thật sâu tại nhà Honoho nằm giữa thung lũng heo hút ở miền Sasayama. 

Nơi đây cách thủ phủ Kobe của tỉnh Hyogo chừng một giờ xe hơi.

Cái làng Maruyama với đúng mười nóc nhà này gợi nhắc về một nước Nhật cổ xưa, khác xa cảnh náo nhiệt mà tôi vừa kinh qua ở Tokyo và Kobe. 

Nơi đây có suối, có rừng, có triền núi thẳm xanh vương vài mảnh tuyết trắng. 

Nơi đây có không khí yên bình.

Tôi dậy sớm, bởi hôm trước bà chủ Saito đã dặn sáng mai sẽ dọn phòng để chuẩn bị cho tiệc trà đạo đãi khách. Một chút luyến tiếc tấm chăn ấm, nhưng tôi vẫn vùng dậy, không cưỡng lại được sự mời gọi của thiên nhiên bên ngoài. 

Tôi ra khỏi nhà Honoho, đi dọc con đường nhỏ có lác đác vài cây anh đào trụi lá. Phải chừng một tháng nữa anh đào mới nở hoa. 

Anh đào là mỹ nữ của xứ Phù Tang. Nhưng khác với gái đẹp, anh đào cho ta một hình ảnh khẳng khiu tàn úa khi trút hết xiêm y.

Cùng vài khách vãng lai, tôi đi quanh ngôi làng hoang vắng, theo hướng dẫn của ông Sakota Naomi. 

Đó là một người đàn ông chừng bảy mươi, cao gầy và vui tính. Ông thuộc lòng lai lịch từng ngôi nhà, cũng như chủ nhân ngày trước của chúng.

“Cái này đã hơn 100 tuổi”, ông nói, vừa chỉ tay về phía ngôi nhà rêu phong không người bên mé ruộng. 

Lời kể của ông dẫn chúng tôi trở về quá khứ xa lắc của Maruyama, khi ngôi làng còn đông đúc gái trai, già trẻ. Những buổi tiệc trà đạo, giã bánh giày, lễ hội thư pháp, cắm hoa, viếng đền thấm đẫm văn hóa Nhật từng diễn ra nơi đây, suốt thời tuổi trẻ của Sakota. 

Thế rồi, khi nước Nhật trở nên cường thịnh sau giai đoạn tái thiết thời hậu chiến, cũng là lúc lớp trẻ rời làng mạc để đến chốn phồn hoa đô hội. Những người trẻ tuổi ở Maruyama đã bỏ lại sau lưng thung lũng hoang vắng này, để đến Kobe, Osaka, hay xa hơn nữa, tới Nagoya, Tokyo, Yokohama. Ngôi làng với quá khứ đầy kiêu hãnh của ông Sakota lụi tàn từ đấy.

“Bây giờ làng có mười nóc nhà, nhưng chỉ ba nóc có người ở”, ông Sakota ngậm ngùi. Ba nóc nhà đó là nhà Akari của dòng họ Sakota, nhà Honoho của dòng họ Saito và nhà Moegi của dòng họ Uchida.

Thực ra ba ngôi nhà này cũng không hẳn là nhà thực thụ, nghĩa là có dân làng ở trong đó, mà chỉ là điểm du lịch văn hóa. Ông Sakota kể rằng, sau khi con cái đi theo tiếng gọi thị thành, ông cùng một số người dân cố thủ lại làng một thời gian nhưng rốt cuộc phải chuyển tới thị xã Sasayama cách đấy gần mười phút xe hơi. Một thời gian sau, với sự tài trợ của chính phủ và các tổ chức xã hội, một chương trình khôi phục văn hóa được triển khai, và ông Sakota cùng vài cựu cư dân Maruyama vui sướng trở về đánh thức lại ngôi làng đang héo úa. Họ thuê lại ba ngôi nhà để làm dịch vụ du lịch theo chương trình thể nghiệm “Cuộc sống tại Nhật Bản”. 

Du khách khi đến đây sẽ được ở trong ngôi nhà truyền thống, trải nghiệm các sinh hoạt đời thường của người dân Nhật như trà đạo, giã bánh giày, ăn lẩu nấm, uống saké. 

Trong lời kể của ông Sakota, tôi thấy lấp lóe niềm hy vọng về một tương lai hồi sinh của ngôi làng.

***
Chúng tôi tập trung tại nhà Honoho sau chừng một tiếng đồng hồ tản bộ, đã thấy hơi ấm tỏa ra từ bình nước trên bếp lò là một hộc nhỏ giữa sàn nhà. Dăm người đàn bà lớn tuổi cùng hai cô gái trẻ vận kimono quây quần trên những tấm chiếu. Một cô gái da bánh mật lặng lẽ ngồi bên lò. Nàng chăm chút ấm nước và bộ chén để chuẩn bị cho tiệc trà. Thi thoảng nàng ngước lên nhìn mọi người. Ánh mắt xa xăm. Nàng như thuộc một thế giới khác, chứ không phải ở đây, giữa thung lũng Sasayama hoang vắng của một nước Nhật xô bồ này.

Bà Saito mời chúng tôi ngồi quanh căn phòng. Bên giữa và xung quanh tường có những bình và giỏ hoa nho nhỏ, thanh tao theo phong cách ikebana. 

Tư thế ngồi seiza (chính tọa) tưởng chừng rất khó khăn đối với một người đến từ Việt Nam, nhưng hóa ra khi ngồi đúng cách, tôi lại thấy thoải mái vô cùng. Buổi trà đạo (chado) bắt đầu khi bà chủ nhà mời khách ăn bánh ngọt, giữa lúc cô gái da bánh mật cho bột trà (matcha) vào những chiếc chén lớn (chawan) rồi châm nước. Bánh ngọt tạo nên sự tương phản với vị chát của trà, làm tăng thêm hương vị thơm ngon khi uống. Bà chủ nhà Saito xoay quanh, kính cẩn dâng trà cho từng người. Tôi nhận lấy chén trà, lóng ngóng cúi đầu cảm ơn theo nghi thức đã được hướng dẫn.

Cái sự uống trà thật công phu, tới mức người ta coi là đạo, một lối sống đã trở thành hồn cốt của con người xứ sở mặt trời mọc.

Sử sách kể rằng, thiền sư Eisai (Minh Am Vinh Tây) vào thế kỷ 12 đã mang trà xanh từ Trung Nguyên về trồng trong sân chùa, ngày ngày thưởng trà và đọc kinh sách. Hương trà thanh tao được nhà sư đưa vào sách Khiết trà dưỡng sinh ký (Kissa Yojoki) và bay khỏi phạm vi sân chùa để hòa vào đời sống dân gian.

Thế là một “con đường” ra đời. Đó là trà đạo.

Lướt qua chút lịch sử, tôi vừa hì hục dùng chổi khuấy tan bột trà, nhưng bất thành. Bà Saito bảo phải khuấy làm sao cho chén trà sủi bọt lên, nôm na là như ly cà phê capuchino vậy. Thấy tôi lóng ngóng, bà ra tay trợ giúp. Chỉ trong nháy máy, đôi tay nhuần nhuyễn của bà đã hoàn thành sứ mệnh. Chén trà sóng sánh màu xanh lục. Tôi cúi xuống tạ ơn bà, rồi khẽ nghiêng sang phải, xin phép người ngồi cạnh trước khi uống, đoạn dùng tay phải nâng chawan lên, đặt vào lòng bàn tay trái, xoay xoay để mặt trước của chén hướng sang một bên và bắt đầu thưởng thức hương vị thơm ngon của bột trà hòa tan trong nước ấm. Xong đâu đấy, lại dùng ngón tay lau phần miệng chén mà môi mình vừa chạm vào, trước khi xoay chén theo chiều kim đồng hồ để hướng mặt trước về phía chủ nhà và trả chén lại cho bà, không quên cúi đầu tạ ơn.

Trà đạo công phu từ cách trồng, chế biến và bảo quản bột trà, đến pha chế và thưởng thức. Ẩn chứa trong nghi thức uống trà đã trở thành đạo này là triết lý sống con người chan hòa với thiên nhiên mà một kẻ ngoại đạo như tôi còn lâu mới ngộ được.

***
Nàng đến từ Myanmar. Bà Saito bảo thế. 

Linh cảm của tôi không sai. Ngay thoáng nhìn đầu tiên, tôi đã thấy nàng không thuộc về nơi này, dù bộ đồ kimono nàng mặc rất hợp. Nàng rời Yangon gần mười năm về trước, phiêu bạt qua nhiều nơi, cuối cùng dừng lại ngôi làng Maruyama hẻo lánh, vừa làm việc cho tổ chức bảo tồn văn hóa, vừa thọ giáo trà đạo. Có thể thấy nàng rất hợp với nghi lễ có phần rườm rà này. Suốt buổi, nàng ngồi lặng lẽ, chăm sóc bình nước, vừa cho bột trà vào chawan và rót nước. Nàng còn phụ giúp bà Saito khuấy trà cho những vị khách lóng ngóng. Rồi nàng quỳ xuống, trịnh trọng dâng trà cho khách. 

Thỉnh thoảng nàng cười.

“Em đã pha trà được năm năm”, nàng nhẹ nhàng đáp, khi tôi tỏ ý tìm hiểu cơ duyên nào đã dẫn dắt người con gái từ xứ sở tháp vàng đến với đạo-uống-trà. Vậy phải mất bao nhiêu năm để đạt được cảnh giới cao nhất của trà đạo? Bà chủ Saito, chừng bảy mươi tuổi, nhìn tôi cười: “Tôi đã pha trà hơn năm mươi năm. Nhưng mỗi ngày vẫn khám phá nhiều điều mới mẻ. Trà đạo là con đường mà người ta đi suốt đời. Đó là đạo, không phải một nghề để ta có thể học vài năm là thành thạo”.

Tôi ồ lên trước cách giải thích giản đơn mà thâm sâu của bà. 

Trà đạo là một con đường rất dài. Đó không phải là một nhiệm vụ phải hoàn thành. Đó là lẽ sống. Thế nên, chuyện khuấy trà rồi đưa lên môi không chỉ là để uống thứ chất lỏng thơm ngon tinh khiết, mà còn uống cái tinh thần, cái triết lý cao thâm đã được người Nhật từ ngàn xưa gửi gắm vào đấy.


***
Chúng tôi rời thung lũng vào tầm trưa, sau tiệc trà đạo và cuộc giã bánh giày trước sân nhà Moegi. Ông Sakota cùng những người làm việc ở Maruyama tới tận con suối đầu làng tiễn khách. 

Những cánh tay vẫy chào như níu kéo. 

Những ánh mắt long lanh như luyến lưu.

Nhưng rồi bánh xe vẫn lăn dứt khoát. Làng Maruyama thanh bình trong chốc lát lùi vào phía sau rặng núi thẳm xanh. 

Trên sườn núi, vài vệt tuyết còn vương lại của mùa đông vừa qua tan chảy thành suối. 

Hai bên đường, những cây anh đào trụi lá háo hức đợi ngày trổ hoa. 

Suy tàn và hồi sinh song tồn.

Không biết làng Maruyama rồi đây sẽ tan chảy như vệt tuyết kia, hay sẽ hồi sinh rực rỡ như hàng anh đào này?