31.8.10

Dặm dài Zimbabwe

Gã này đang bán thẻ cước điện thoại di động. Mỗi thẻ một đôla Mỹ. Tôi chụp ảnh gã cũng đòi cát xê một đôla.


(tiếp theo)

Nỗi ám ảnh di động

*

Tôi thức dậy khi nắng đã tràn ngoài khuôn viên của khu nhà trọ Small World Backpackers (Có nghĩa là: Thế giới nhỏ bé của dân du lịch bụi). Harare ấm, không lạnh se sắt như Johannesburg ở Nam Phi, nơi tôi vừa có hơn một tháng quay cuồng cùng trái bóng tròn World Cup 2010.


Small World Backpackers, như tên gọi của nó, là nơi trú chân rẻ tiền dành cho dân du lịch bụi. Tôi từng ngụ trong những chốn tương tự ở Basel, Lausanne, Vienna, Johannesburg nên giờ đến đây thấy như bắt gặp một chốn thân quen. Chốn thân quen ấy là giường tầng, nhà bếp tự phục vụ, khu xem ti vi tập thể ồn ào và quầy rượu cũng ồn ào không kém.


Tối hôm trước, tôi tới đây khuya quá, khi khu tiếp tân đã đóng cửa nên đành giao dịch ở quầy rượu. “Anh có cái ổ cắm điện nào không?”, tôi hỏi gã trai trẻ đứng sau quầy. “Không có đâu”, anh ta đáp. Rồi anh ta dẫn tôi tới căn phòng có tên Windhoek. Ở khu nhà trọ này, phòng không đánh số mà được đặt tên theo các địa danh. Windhoek là thủ đô của Namibia. Maputo (thủ đô Mozambique), Harare… là tên những căn phòng khác. Sau khi tôi nhận giường với giá 30 đôla/đêm, anh tài xế Sitwelo, người chở tôi từ sân bay Harare về khu nhà trọ, hỏi người phục vụ: “Bây giờ anh lo cho vị khách này được rồi chứ?”. Anh kia gật đầu, lúc bấy giờ Sitwelo mới chia tay tôi. Sự tận tâm của anh chàng lái xe làm tôi rất có thiện cảm với con người HarareZimbabwe nói chung, dẫu khá nản với sự tồi tàn và thiếu thốn của nơi tôi vừa đặt chân đến.


Quăng ba lô lên giường, tôi bắt đầu la cà cùng mấy vị du khách da trắng ở phòng xem ti vi. Anh này là Duncan Smith, người Anh, đến từ Johannesburg trên chuyến bay của hãng British Airways. Anh đi du lịch một mình, với dự định sẽ lang thang khắp xứ sở Zimbabwe cùng các nước lân cận như Zambia, Botswana, Mozambique… Chị kia là Alice Hartson, đến từ thành phố Halifax ở Canada, sau khi đắm chìm trong không khí World Cup tại Nam Phi, đã tìm đến Zimbabwe với cả nỗi khao khát khám phá. Còn gã đàn ông hộ pháp đằng kia, người hôm qua đã dẫn tôi xuống quầy rượu để làm thủ tục nhận phòng, là Bill Hannan, đến từ Illinois, Mỹ.


Buổi sáng hôm sau, tôi nhờ tiếp viên khách sạn gọi tắc xi. Ở đây, việc gọi tắc xi có vẻ không nhiêu khê như Johannesburg. Chỉ vài phút sau khi cô tiếp viên Alice Bhawoka bấm điện thoại, một chiếc tắc xi mới cáu đã trờ tới cửa.


Dưới ánh nắng vàng rực, tôi hỏi gã tài xế trẻ Oliver Mutasa: “Anh cho tôi đi tận cùng mọi ngõ ngách Harare, nguyên ngày, giá bao nhiêu?”. Anh chàng người Shona, còn rất trẻ, đáp lại bằng một câu hỏi: “Anh muốn trả bao nhiêu?”. Dường như đây là một tính cách của người châu Phi vậy. Họ ít khi đưa ra đề nghị trước. Tôi đã gặp điều này suốt thời gian ở Nam Phi, trước những người Zulu, Xhosa, giờ gặp lại nó trước những người Shona ở Zimbabwe.


***

Trên con đường Robert Mugabe ở trung tâm thành phố, gã tài xế tắc xi Oliver Mutasa dẫn tôi đi loanh quanh. Đường phố này mang tên nhân vật đã lãnh đạo Zimbabwe hơn 20 năm qua. Song song với nó là con đường Nelson Mandela, nhà đấu tranh giải phóng người da đen và đồng thời là nhân vật đã đặt nền móng cho thiết chế dân chủ ở Nam Phi. Hai nhân vật từng chung một lý tưởng giải phóng người da đen, nhưng rồi giờ đây đang ở những thái cực khác nhau. Mandela, sau khi đấu tranh xóa bỏ chế độ Apartheid, lên làm tổng thống thông qua một cuộc bầu cử dân chủ và ông cũng chỉ lãnh đạo đất nước một nhiệm kỳ rồi rút lui, để cho cỗ máy dân chủ tự vận hành theo quy luật của nó. Mugabe, sau cuộc đấu tranh vĩ đại chống thực dân da trắng, giải phóng người da đen khỏi kiếp nô lệ, đã áp đặt một chính thể chuyên chế của mình, rất lâu, và không biết đến bao giờ. Sau sự cởi thoát ách thực dân, người dân Zimbabwe vẫn chưa có một ngày tươi sáng như họ từng mong chờ, và được hứa hẹn.


Đang đi, Mutasa cúi xuống một cái mẹt hàng bên đường. Tôi hỏi anh ta làm gì thế, Mutasa đáp: “Mua thẻ cào!”. Thẻ cào (airtime) là loại thẻ chứa mã số để nạp tiền cho điện thoại di động, tương tự kiểu nạp tiền cho thuê bao trả trước ở Việt Nam. Nơi đây người ta bán loại thẻ một đôla Mỹ và bán khắp nơi, trên đường phố, giữa khu chợ bệt, trong tiệm thức ăn nhanh, ở cây xăng, trong khách sạn. Lại có những người bán thẻ cào dạo kiểu như người bán vé số ở ta; họ móc một chùm thẻ lên một cái que rồi giương lên dọc vệ đường để “nhử” khách. Buổi trưa ấy, chở tôi loanh quanh khắp các ngõ ngách ở Harare, chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, Mutasa đã ba lần mua thẻ cào để nạp tiền vào điện thoại. Tôi thắc mắc: “Sao anh không mua một lần, mua gì lắt nhắt thế?”. Anh ta bảo, tôi chỉ có tiền lẻ, kiếm được đồng nào mua đồng đó. Ấy là Mutasa có cậu em làm nghề chạy chợ - tức là đụng gì làm nấy - ở trung tâm, cứ lái xe một vòng là anh ta quay lại ngoắc chú em một cái, kêu “đưa tao ít tiền lẻ” để mua thẻ cào. Đôi lúc anh lại đưa điện thoại cho thằng bạn nào đó dùng vài phút.


Hồi tham dự World Cup 2010 ở Nam Phi, tôi có đến một cái làng nghèo tên là Diepsloot. Ở đó tôi đã gặp một nàng Sarah ưa làm duyên với điện thoại. Thì ở đây, giữa thủ đô Harare với những tòa nhà lớn bị bủa vây bởi những khu ổ chuột này, một cơn sốt điện thoại di động cũng đang diễn ra ồn ào, náo nhiệt. Vật thể bé xíu này như là đại diện cho một thế giới văn minh, hiện đại mà người dân nơi đây muốn chạm tới.


Sự vồ vập mà người Zimbabwe dành cho chiếc điện thoại bé tí cũng là khát khao vượt thoát khỏi những hạn chế về vật chất, những trói buộc của xã hội nơi đây.


Khát vọng tự do, dưới hình thức này hay hình thức khác, luôn mãnh liệt và sẵn sàng bùng cháy ở bất kỳ đâu, kể cả những nơi con người bị giam hãm.

(còn tiếp)


Tiếp theo sẽ là: Những người đàn ông nhiều vợ...

30.8.10

Nhà máy điện Vĩnh Hưng...


Mr. Do vừa nhận được thư điện từ bác Dương Danh Huy như sau:

"Chính phủ Trung Quốc vừa phê duyệt 1,75 tỉ đôla cho
nhà máy nhiệt điện Vĩnh Hưng giai đoạn 1, dự án đầu tư lớn nhất của nước này ở Việt Nam."
Không biết tên "Vĩnh Hưng" là do phía TQ hay phía VN đề nghị, mà "hay" quá!
Vĩnh Hưng = Yongxing = tên TQ đặt cho đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Một dự án nổi bật như thế, với vốn hàng tỉ USD, thì không nên dùng tên Vĩnh Hưng, tên TQ đặt cho đảo họ chiếm từ ta.
Đặt tên nhà máy đó là "Vĩnh Hưng", không khác gì mấy đặt tên nó "Tây Sa".
Không khéo phía TQ cười chúng ta vô ý thức!
Thấy cũng buồn.
Nếu có thằng nào đề xuất những tên như "Tự do", "Dân chủ", "Nhân quyền" cho nhà máy thì sẽ có người "ý thức" ngay.
Còn tên "Vĩnh Hưng" thì không ý thức.
--------------
Mr. Do bàn: Thâm thật! Thâm đến thế là cùng! Tiên sư thằng Tào Tháo!

Cập nhật:
truongthaidu nói...

Chống Tàu kiểu này thì mù quáng quá, trẻ con quá. Nhà máy điện này nằm tại Thôn Vĩnh Hưng, xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Do đó nó được người VN đặt tên là nhà máy điện Vĩnh Hưng, thế thôi. Nghệ thuật đặt tên của VN thì phải nói là rất đặc sắc, dưới chân cầu SG bên phía BT có 1 công viên tên là "CÔNG VIÊN DẠ CẦU SÀI GÒN"!!!


Dặm dài Zimbabwe

Oliver Mutasa - bạn tớ - trên đại lộ Robert Mugabe ở trung tâm Harare. Ảnh: Mr. Do


(Tiếp theo)


Ánh đèn vàng Harare


Harare cho tôi một ấn tượng tương tự Yangon. Đó là đường sá tối tăm, với những cột đèn thưa thớt, rải thứ ánh sáng vàng vọt xuống lòng phố.


Tôi đáp xuống sân bay quốc tế Harare vào quãng 22 giờ. Buổi đêm, sân bay vắng như một sa mạc, với vài chiếc máy bay nằm lặng lẽ như những chú lạc đà ngủ đêm. Phi trường chỉ có chừng 10 hãng hàng không nội địa và khu vực chọn làm điểm đến.


Ánh đèn vàng vọt từ các trụ điện bên ngoài hắt vào. Hình ảnh thủ đô của Zimbabwe, trong thoáng gặp đầu tiên, thật đìu hiu.


Nhảy xuống xe buýt để bước vào nhà ga, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là bức chân dung nhà lãnh đạo Robert Mugabe treo trên cao, án ngữ ngay lối đi dẫn tới khu vực làm thủ tục nhập cảnh. Ông ngồi đó, mỗi ngày dõi theo những người khách quốc tế đến với Zimbabwe, cũng như nhìn thần dân nước ông trở về nhà sau những ngày bôn ba kiếm tiền nơi hải ngoại. Sau này, khi có dịp đi gần khắp đất nước Zimbabwe tươi đẹp nhưng rất nghèo, tôi còn có dịp gặp chân dung của Mugabe ở nhiều nơi, từ sảnh khách sạn tới phòng vé xe buýt, từ khu du lịch đến phòng giao dịch ngân hàng.


Đây là đất nước mà Mugabe và các đồng chí của ông đã giải phóng và rồi dần kiệt quệ trong suốt ba thập niên cầm quyền của ông.


Cũng như phi đạo ngoài kia, phía trong nhà ga của sân bay Harare rất vắng. Chỉ có những hành khách đến từ Johannesburg, trên chuyến bay SA 0024 của hãng South African Airways. Không khí im ắng tới mức người ta có thể nghe tiếng đóng dấu cốp cốp của các nhân viên nhập cảnh.


“Anh đến Zimbabwe làm gì?”, người đàn ông ngồi trong quầy kiểm soát thị thực hỏi. “Đi chơi thôi”, tôi đáp. “Trong bao lâu?”. “Vài ngày thôi”. “Anh cho tôi xem vé máy bay khứ hồi!”. “Đây!”. Cuộc đối đáp thủ tục nơi cửa nhập cảnh diễn ra khá nhanh, và không có một nụ cười nào như những nụ cười phô hàm răng trắng bóng rất đặc trưng của người da đen mà tôi từng gặp trên khắp đất nước Nam Phi trong những ngày ngược xuôi giữa mùa World Cup vừa qua.


Những người đàn ông và đàn bà đồng hành cùng tôi từ Nam Phi sang Zimbabwe biến đi rất nhanh khỏi phi trường, cứ như là bị gió cuốn vậy. Bơ vơ, tôi ngồi xuống bên một pho tượng nhỏ. Lúc này tôi mới nhận ra trong chốn phi trường tối tăm này có rất nhiều tượng với hình thù kỳ dị, nhưng có vẻ rất đẹp, điều mà tôi sẽ còn gặp lại nhiều lần trong cuộc hành trình xuyên qua giữa lòng Zimbabwe sắp tới đây. Có thể nói đây là đất nước của tượng.


“Làm sao để gọi tắc xi ở chỗ này?”, tôi hỏi một anh chàng da đen vừa đi ngang trước mặt, tin rằng anh ta là người địa phương. Khác với hầu hết sân bay mà tôi từng đi qua, nơi đây không có các văn phòng làm dịch vụ đặt phòng, đưa đón hành khách. Các quầy đổi tiền cũng không có. Mà làm gì có chuyện đổi tiền ở đất nước này chứ. Tôi băn khoăn không biết cách nào tìm đường tới nhà trọ Small World Backpackers ở khu Avondale, ngoại vi thủ đô Harare. “Anh thử chạy ra phía ngoài kia xem sao. Hỏi mấy nhân viên đằng kia kìa”, chàng trai da đen đáp. “Nhưng đón tắc xi ở đây có an toàn không?”, tôi hỏi tiếp với cả nỗi ám ảnh về tình hình bất an tại Lục địa đen. “Tôi không rõ. Tôi mới đến đây lần đầu, …từ Malawi. Nhưng tôi nghĩ không sao đâu”, anh chàng đáp.


Vẫn chưa an tâm, nhưng biết làm sao được, tôi ngoắc đại một anh bự con đứng cạnh cổng ra vào. “Tôi muốn tới khu Avondale”, tôi nói. Anh chàng bảo rằng Avondale không xa lắm, rồi hỏi tôi: “Anh trả được bao nhiêu?”. Tôi hỏi lại: “Anh ra giá bao nhiêu?”. Anh ta lưỡng lự rồi bảo có thể chở tôi với giá 30 đôla Mỹ. Tôi nói 25 đôla thôi. Anh ta tính tới tính lui, rồi cười, thôi cũng được. Nụ cười của anh cho tôi một chút cảm giác bình an. Và còn bình an hơn nữa, khi anh bảo tôi hãy đứng yên ở đấy chờ anh đi lấy xe, vì bên ngoài rất lạnh. Tôi bắt đầu cảm thấy ấm áp giữa chốn lạ lẫm và hoang vắng này.


Dan Sitwelo là một chàng trai người Shona 23 tuổi, đã có một vợ và ba con. Sau khi giúp tôi nhét đồ vào xe và ngồi vào phía sau tay lái, anh cười: “Chào mừng đến Harare!”, rồi nhấn ga cho chiếc xe cũ kỹ cọc cạch lao tới. Sitwelo không phải là tài xế tắc xi chuyên nghiệp. Anh làm bảo vệ ở bãi xe sân bay. Sau giờ làm, anh thường nán lại để chở khách, kiếm thêm thu nhập. Tôi hỏi mỗi tháng kiếm được bao nhiêu, Sitwelo đáp: “Khoảng 300 đôla Mỹ”. Rồi anh giải thích thêm: “Mỗi tháng tiền thuê nhà chừng 100 đôla. Như vậy tôi còn 200 đôla cho tất cả các chi phí còn lại của gia đình, từ ăn uống, áo quần, thuốc men, phí học hành cho con cái”. Để tôi dễ hình dung, anh nói thêm rằng một suất ăn nhanh ở tiệm Chicken Inn có giá 5 đôla, một lon bia Lion giá 1 đôla. Tôi hỏi về tình hình kinh tế, chàng tài xế nói rằng cuộc sống giờ đã đỡ hơn chút chút. “Từ ngày đổi qua dùng tiền Mỹ thì đỡ bi đát hơn. Hy vọng tình hình sẽ trở nên sáng sủa trong thời gian tới”, anh nói. Tôi hỏi: “Các anh còn dùng tiền rand của Nam Phi nữa chứ?”. Sitwelo gật đầu: “Tỉ giá quy đổi là 1 đôla ăn 7,8 rand” (ở Nam Phi tỉ giá chừng 1 USD = 7,4 rand). Nhưng khi thâm nhập vào cuộc sống ở đây, tôi thấy cái tỉ giá này mỗi nơi một khác, nói chung là tùy hứng. Thường thì người ta có xu hướng quy 1 USD tương đương 10 rand cho chẵn. Chuyện này nảy sinh rất nhiều phiền toái đối với người đến Zimbabwe lần đầu.


Vượt qua con đường hẹp xuyên giữa cánh rừng thưa, chiếc xe đưa tôi tiến về trung tâm Harare, thủ đô và là thành phố lớn nhất Zimbawe. Khu trung tâm có khá nhiều tòa cao ốc, bao quanh là những dãy nhà ổ chuột, các hàng quán nhếch nhác và những khu chợ ẩm thấp. Ấn tượng đầu tiên của tôi về đô thị này là nó khá tối, với những cột đèn đường nằm rất thưa, tỏa thứ ánh sáng vàng vọt xuống lòng phố. Tôi nhớ mình đã gặp thứ ánh sáng này, những khung cảnh tương tự khi tới Yangon, thủ đô cũ của Myanmar, sau những ngày máu lửa hồi mùa thu 2007. Trong nhịp lắc lư của chiếc xe cà tàng, tôi suy ngẫm sự tương đồng tăm tối ở hai đô thị nằm ở hai nửa bán cầu khác nhau.


Harare tối quá”, tôi buột miệng. “Nhưng rất đẹp anh ạ”, Sitwelo đáp. “Ngày mai anh sẽ thấy”.


Vâng, đêm nay tôi sẽ ngủ thật sâu để chờ ngày mai.

(còn tiếp)


Một con đường cực đẹp tại Harare. Ảnh: Mr. Do

Thả người! Thả người!


Tóm lại, máy bay rơi thì không phải việc của nhà báo.
Nhà báo chớ tò mò
Tò mò bị bắt ráng chịu nhá.
Nhưng mà mấy nhà báo đồng nghiệp coi bộ cũng ngon, dám tụ tập biểu tình đòi người, đòi tới lúc thả mới thôi.
Trong vụ này, Ban Tuyên Giáo TƯ Trung Quốc đã không hoàn thành nhiệm vụ. Lẽ ra phải ém nhẹm đi, rồi đóng cửa bảo nhau chứ. Phơi ra thế này thì quả là nhạy cảm, nhạy cảm!

29.8.10

Không làm thì nói chứ sao bây giờ


Hôm qua, GS Ngô Bảo Châu nói thế này:

"Tôi may mắn sống trong ngôi nhà của ông (Henri Van Regemorter - tui) nhiều năm, học được rất nhiều từ con người ông. Ông không bao giờ nói dài như tôi đang làm nhưng qua việc làm của ông tôi hiểu rằng nhiệm vụ của nhà khoa học không chỉ đơn thuần là chuyên môn mà còn bao gồm việc đem đến cho những người trẻ tuổi không kể xuất xứ, không nhất thiết phải là người thân cái cơ hội đầy tiềm năng của họ được phát triển trong khoa học và rộng hơn là trong cuộc sống..."

Tôi thích cái ý (in đậm) ở trên. Ông Henri - và "người ta" nói chung - quá bận làm việc nên không có thời gian để mà hoa cà hoa muống. Đó là một sự tương phản cực kỳ cực kỳ với mấy ông nói nhiều ở ta. (Trong hôm đón bác Châu cũng có mấy ông nói nhiều).

Lâu nay chúng ta cứ thắc mắc - và phát ngán - với mấy ông nói nhiều, cấp càng cao thì nói càng nhiều. Giờ thì chúng ta đã hiểu tại sao: do mấy ông ấy rảnh quá nên nói nhiều để giết thời gian. Không như ông Henri kia bận làm tới mức không có thời gian để dông dài.

Hồi trước, Giáo sư Châu có nói thế này:
"Đạt thành tích tốt trong các kỳ thi Olympic dễ hơn nhiều so với thành công trong khoa học. Vì ta chưa có nhiều thầy nghiên cứu giỏi nên ta cũng chưa có trò nghiên cứu giỏi. Từ không đến có là một bước nhảy vĩ đại. Có lẽ trước hết ta nên dò xét lại trong cơ chế, có gì cản trở sự phát triển của khoa học thì nên bỏ. Thực ra, xã hội ta chưa ngộ ra sự cần thiết của một môi trường hàn lâm toàn vẹn, nơi người ta biết đặt học tập lên trên hết. Ở ngoài môi trường này, nghiên cứu khoa học thực sự khó có thể nảy mầm."

Bác ấy lại nói:
"Cùng với các đồng nghiệp ở Viện Toán học và trường ĐH Sư phạm, tôi có tham gia tổ chức một lớp cao học quốc tế. Chúng tôi đã được lãnh đạo Bộ Khoa học - Công nghệ cũng như Bộ Giáo dục - Đào tạo tiếp đón một cách trọng thị. Nhưng để lớp cao học này thực sự đi vào hoạt động thì quả thực có vô vàn khó khăn. Tuy kinh phí đề nghị rất khiêm tốn so với ý nghĩa của việc cụ thể này đối với tương lai của toán học Việt Nam, mỗi một bước đi là một bước vấp cơ chế, rồi phải tìm cách lách nếu muốn đi tiếp. Trong xã hội của chúng ta hiện nay, chuyện này là bình thường nhưng đây là chuyện vô cùng đáng tiếc. Anh có nhiệt tình, nhưng cũng chỉ có một quỹ thời gian hạn chế. Anh muốn sử dụng quỹ thời gian đó một cách có ý nghĩa hơn là đối phó với các cơ chế vô lý."

Lại nói:
"Theo tôi nghĩ, một nhà khoa học chuyên nghiệp phải đặt câu hỏi làm khoa học thế nào cho giỏi trước câu hỏi làm ở đâu. Có hai việc khó làm ngay được, nhưng xã hội nên dần dần có ý thức. Thứ nhất, khoa học khó nảy mầm ở ngoài một môi trường hàn lâm toàn vẹn."

Hôm qua, có mặt các vị lãnh đạo Việt Nam, bác Châu nhắc lại một lần nữa:

"Từ trải nghiệm ở Pháp cũng như ở Mỹ, tôi hiểu ra rằng môi trường học thuật lành mạnh là điều kiện tiên quyết cho sự trưởng thành của các nhà khoa học trẻ. Môi trường khoa học lành mạnh chính là nơi học thuật và đạo đức trong học thuật luôn được xếp ở vị trí đầu tiên cùng với sự bình đẳng giữa các nhà khoa học không phân biệt già trẻ cũng như sự tự do tuyệt đối trong nghiên cứu khoa học."

Một môi trường hàn lâm toàn vẹn - hay lành mạnh - là nơi mà nhà khoa học có thể toàn tâm toàn ý cho công việc, nơi người ta không phải vừa nghiên cứu vừa vã mồ hôi trán tìm cách "lách cơ chế", nơi người ta có sự tự do tuyệt đối trong sáng tạo và ý đồ chính trị của người có quyền lực phải ở hàng thứ yếu, nếu như không muốn nói là cần bị gạt ra.

Nhưng, một môi trường khoa học lành mạnh ở đâu ra? Một môi trường như thế chỉ có thể đâm chồi trong một xã hội có nền tảng thiết chế lành mạnh.

Chúng ta đã có cái lành mạnh sau chưa?
---------------------

Khuyến mãi một bài phỏng vấn nhanh (và cũ) của tớ:

Nhiều đồng nghiệp của anh cho biết họ không bất ngờ khi tên anh được xướng lên trên bục nhận giải Fields. Còn bản thân anh, anh có bất ngờ?

Tôi được biết trước nên không bất ngờ. Tuy nhiên, Hội toán học thế giới yêu cầu giữ bí mật cho đến ngày chính thức trao giải. Mọi người đều chấp hành nguyên tắc đó.

Sau khi được trao giải Fields, anh có những kế hoạch gì mới trong việc tham gia các nỗ lực thúc đẩy nghiên cứu khoa học ở Việt Nam?

Tôi rất hy vọng Viện nghiên cứu và đào tạo cao cấp về Toán sẽ được nhà nước ủng hộ. Viện dự định thu hút những nhà khoa học trẻ VN được đào tạo ở nước ngoài cũng như những nhà khoa học nước ngoài hàng đầu. Viện cũng sẽ rất ưu tiên những nhà toán học hiện đang làm công tác giảng day trong nước. Viện chỉ có rất ít biên chế chính thức, còn lại những người khác được mời đến làm việc trong một khoảng thời gian từ 3 tháng đến 1 năm, có thể lâu hơn trong các trường hợp ngoại lệ. Viện sẽ ưu tiên sự phối hợp giữa các nhà toán học và giữa toán học với các ngành khoa học khác như khoa học máy tính, vât lý, sinh vật, kinh tế ... Tóm lại, Viện sẽ đóng vai trò vườn ươm cán bộ khoa học cho các trường đại học.

Anh có đề cập đến Quỹ khuyến học sắp ra đời, anh có thể cho biết Quỹ sẽ hoạt động như thế nào và đối tượng chính mà nó phục vụ là ai?

Đối tượng chủ yếu là sinh viên giỏi có hoàn cảnh gia đình khó khăn, và nghiên cứu sinh xuất sắc. Ngoài việc cấp học bổng cho sinh viên, chúng tôi sẽ cố gắng tìm cho em một giảng viên của trường nơi em học làm người đỡ đầu, theo mô hình tutor (người dạy một học sinh duy nhất – NV) trong các trường ở Anh. Thời gian đầu có lẽ chúng tôi hạn chế trong lĩnh vực khoa học cơ bản. Sau này nếu Quỹ hoạt động thành công, chúng tôi có thể mở rộng ra những lĩnh vực khác.


Anh có tin rằng với uy tín và sự dấn thân của anh, sẽ có thêm nhiều nhà khoa học VN ở nước ngoài cùng chung tay vào nỗ lực chấn hưng nền khoa học - giáo dục Việt Nam?

Nếu không có nỗ lực của nhiều người, trong và ngoài nước, chắc chắn sẽ không có sự chấn hưng nào cả. Tôi tin là nếu nhà nước có chính sách khoa học đúng, để mỗi người phát huy được khả năng của mình, thì chúng ta sẽ đi lên. Tôi luôn nhìn vào ví dụ của Hàn Quốc để thấy chấn hưng nền khoa học- giáo dục là điều có thể.


Trở lại với câu chuyện của anh. Thành công thường đi kèm hệ lụy. Đọc blog anh, tôi có cảm giác anh đang phải chịu đựng điều này?

Đúng là tôi không thích cuộc sống riêng tư của mình được phơi lên báo chí. Nhưng tôi nghĩ là cơn sốt này sẽ qua nhanh. Chưa ai được huy chương Fields hai lần.


Những hệ lụy đó có ảnh hưởng gì tới không gian khoa học của anh, một không gian mà tự do phải được ưu tiên nhất?

Tất nhiên là có ảnh hưởng. Nhưng tôi hy vọng sớm quay lại với cuộc sống bình thường của một nhà khoa học.


Dặm dài Zimbabwe



Những người nghèo ở chợ trời Harare, mặt hàng của đôi vợ chồng này là thẻ nạp tiền điện thoại di động. Ảnh: Mr. Do

Báo Thanh Niên vừa khởi đăng loạt bài này của tớ. Ở trên blog là bản "gin" hơn.
---------------------

DẶM DÀI ZIMBABWE

Đấy là đất nước của thác Victoria hùng vĩ, của nhà đấu tranh vì tự do kiệt xuất Robert Mugabe và của những tỉ phú nghèo xơ xác. Zimbabwe là một câu chuyện dài, rất thực mà hư ảo.


Chàng trai trẻ Manezho


Trên chuyến xe đò rời Durban, một đêm rất lạnh, tôi ngồi bên cạnh anh chàng da đen trẻ tuổi.


Đó là buổi đêm sau trận đấu Đức – Tây Ban Nha ở vòng bán kết World Cup 2010. Niềm lưu luyến có thể cảm nhận được qua từng làn gió biển ở đô thị miền đông Nam Phi này. Đêm ấy, Durban chính thức chia tay World Cup. Và tôi cũng rời thành phố sau một khoảng thời gian không thể quên. Chẳng có việc gì làm và cũng để giết chết chặng đường gần 600 km trước mặt – từ Durban đi Johannesburg, tôi bắt chuyện với gã trẻ tuổi ngồi bên. Tên cậu ta là Malvern Manezho. Quan trọng hơn, cậu ta đến từ Zimbabwe.


Cái tên Zimbabwe đối với tôi có một sức hấp dẫn đặc biệt. Đất nước này, nằm trên miền biên giới phía bắc Nam Phi, mấy năm về trước từng trải qua một cơn lạm phát tồi tệ. Xem trên truyền hình và mạng toàn cầu, tôi thường bắt gặp hình ảnh những con người nghèo khổ đứng sau chồng tiền cao quá đầu. Một chồng tiền đó, nghe đâu, chỉ đủ mua vài cái bánh mì. Lạm phát ở Zimbabwe lúc đó tới mấy trăm triệu phần trăm. Cứ như một cơn động đất vậy.


Tôi hỏi Manezho: “Zimbabwe bữa nay ra sao?”. Anh chàng đáp: “Khá ổn”. Tôi vẫn chưa tin: “Thật chứ?”. Lại đáp: “Từ khi chuyển qua xài tiền đôla Mỹ và rand của Nam Phi, kinh tế đã đỡ hơn”. Câu chuyện ban đầu cứ ngập ngừng, theo nhịp lắc lư của xe. Nhưng khi biết tôi có kế hoạch đến Zimbabwe ngay sau đêm chung kết World Cup, Manezho trở nên cởi mở. “Ồ, anh nên đến. Có rất nhiều nơi để tham quan ở đấy, thác Victoria hùng vĩ nhất thế giới chẳng hạn”, Manezho hào hứng.


Ngọn thác Victoria tuyệt đẹp nhưng rất hung hãn thì tôi đã có dịp biết đến qua những cuốn sách hồi học phổ thông. Mấy năm về trước, khi tham gia một diễn đàn trên mạng có tên Quán trọ Zimbabwe, tôi cũng thường bắt gặp hình ảnh dòng thác này. Cuồn cuộn, trắng xóa, quyến rũ đến mê hồn, nhưng cũng thật đáng sợ. Cái tên Zimbabwe, tuy nhiên, đối với tôi còn hơn cả một sự tò mò. Cũng như nó quyến rũ tôi không chỉ bởi dòng thác Victoria hung hãn. Tôi muốn một lần đến đất nước của Robert Mugabe, người anh hùng trong công cuộc đấu tranh giành tự do cho người da đen rồi sau đó trở thành nguyên nhân của một bi kịch kinh khiếp. Tại sao một con người từng vĩ đại đến thế đã trở nên đáng sợ với người dân Zimbabwe hôm nay? Tại sao một con người như thế đang là tâm điểm của những sự chỉ trích dồn dập từ phương Tây?


Robert Mugabe là một anh hùng giải phóng người dân châu Phi khỏi sự cai trị của người da trắng thiểu số. Ông đấu tranh không khoan nhượng với người Anh, trong đó có “Bà đầm thép” Margaret Thatcher. Và trên thực tế, ông đã thành công trước cả Nelson Mandela. Nền độc lập Zimbabwe được công nhận trước cả khi chế độ Apartheid bị xóa bỏ ở nước láng giềng Nam Phi.


Đầu thập niên 1980, khi Nelson Mandela của Nam Phi còn ngồi trong nhà tù của chế độ Apartheid, Mugabe đã giải phóng cho người da đen Zimbabwe và tiến hành công cuộc trả đất về cho nông dân. Biện pháp mà Mugabe thực thi rất mềm dẻo. Đó không phải là cuộc “cướp đất người giàu (ở đây là người da trắng thiểu số) chia cho dân nghèo”, mà là một hình thức mua lại đất từ địa chủ - tất nhiên là với một mức giá phi thị trường – để trao lại cho nông dân tay trắng. Nhưng do thiếu những chính sách kinh tế cụ thể, vốn là một đặc trưng của các nhà lãnh đạo dân túy, Mugabe đã đưa đất nước Zimbabwe vào một giai đoạn tăm tối mới, sau thời kỳ thực dân.


Trong cuốn Kỷ nguyên hỗn loạn, cựu Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Alan Greenspan đã giải thích:Robert Mugabe, tổng thống Zimbabwe từ năm 1987, hứa hẹn và đã đem lại cho những người theo ông ruộng đất tịch thu của người da trắng. Nhưng những chủ đất mới không được chuẩn bị để quản lý ruộng đất. Sản xuất lương thực suy sụp, buộc phải nhập khẩu trên quy mô lớn. Thu nhập có thể đánh thuế giảm mạnh, buộc Mugabe phải in thêm tiền để tài trợ cho chính phủ. Vào lúc cuốn sách này được viết (2007), siêu lạm phát đang gây ra các tác động xã hội nghiêm trọng ở Zimbabwe”.


Không có chính sách kinh tế hiệu quả, nhưng Mugabe lại nắm quyền dài lâu. Đó chính là bi kịch. Người anh hùng năm xưa, sau khi giải phóng người châu Phi khỏi những tàn dư của thực dân, đã dắt họ vào một lối đi lầm lạc mới. Hay nói cách khác, ông đã thay thế chủ nghĩa thực dân bằng một chính quyền chuyên chế của chính ông. Cuộc giải phóng của ông, vì thế, đã mất đi ý nghĩa quan trọng nhất của nó. Người dân đã không được giải phóng.


“Ông Mugabe thế nào?”, tôi hỏi chàng trai Manezho. “Tôi sợ ông ấy”, anh đáp. “Nhưng tôi tin mọi việc sẽ tốt hơn”. Tôi nhìn vào mắt chàng trai thuộc tộc người Shona này và qua ánh đèn hắt lên từ đường phố, thấy ánh lên một niềm tin nho nhỏ.


Manezho mới 22 tuổi, có một gia đình lớn ở Harare, thủ đô Zimbabwe. Bốn năm nay, anh sang Nam Phi làm ăn, ban đầu phục vụ trong quán cà phê, còn giờ đây là nhân viên điều hành của hãng xe đò InterCape. Lương tháng chừng 2.500 rand (gần 7.000.000 đồng VN), mỗi năm anh về nhà hai lần, bằng xe buýt, với giá vé khoảng 600 rand. Mức lương ấy, trừ đi các chi phí ăn uống, nhà cửa, tàu xe, còn lại Manezho đem về phụ giúp gia đình. Ở Johannesburg, trong quán cà phê Bean There nằm cạnh tiệm Phở Sài Gòn của chị Phương Thanh, tôi cũng từng gặp những người phục vụ người Zimbabwe. Họ đến để kiếm tiền, bỏ lại sau lưng những cánh đồng hoang xơ xác, những ngôi nhà xiêu vẹo và những đôi mắt mong chờ của người thân, thành quả từ cuộc cách mạng mang tên người anh hùng Mugabe.


“Tôi chẳng thể kiếm việc làm ở Harare. Có rất nhiều người Zimbabwe tới Nam Phi như tôi, theo đường hợp pháp hoặc phi pháp”, Manezho tâm sự. “Chừng nào đất nước thoát khỏi khó khăn hiện tại, chúng tôi sẽ trở về. Kiếm tiền trên quê hương mình vẫn là sướng nhất”.


Tôi nghe trong lời chàng trai trẻ là một bể tâm sự của người xa quê. Nỗi hoài hương thì ai cũng có như nhau vậy, không cứ gì Tây hay Đông, Phi hay Á.


Tôi hỏi: “Anh nghĩ đến bao giờ thì có thể trở về?” “Tôi không biết, nhưng có thể tin rằng mươi năm nữa mọi việc sẽ tốt hơn”. Tôi nói với Manezho rằng tôi hy vọng sẽ nhanh hơn thế. Anh chàng trẻ tuổi cười. Tôi quay sang, nhưng trời tối quá, chẳng thể thấy một ánh hy vọng nhỏ nhoi nào đó lóe lên từ mắt chàng trai.


Tôi chợt nhận ra là xe đã rời khỏi thành phố.


Ở đây không có ánh đèn đường.


(còn tiếp)

-----------


Zimbabwe:

Nằm ở miền nam châu Phi, giáp với các nước Nam Phi (phía nam), Botswana (tây nam), Zambia (tây bắc) và Mozambique (đông). Zimbabwe có diện tích 390.757 km2, với dân số chừng 13.000.000 người. Thủ đô là Harare.

28.8.10

Trái bóng ở trong tay


Cần phải biết cách đón nhận ly rượu mời này

*

Ngày 25.8.1973, từ nơi tạm giam ở Fort Bonifacio, Manila, một tù nhân chính trị Philippines đã nhắn về cho con trai:


“Cha chỉ có một lời khuyên duy nhất dành cho con: Hãy sống bằng chính danh dự và lương tâm của mình. Không đất nước nào vĩ đại hơn Tổ quốc chúng ta. Không nhân dân nào vĩ đại hơn nhân dân chúng ta. Hãy phục vụ họ với tất cả trái tim, nghị lực và sức lực của mình. Con trai ạ, trái bóng đang ở trong tay con."


Đứa con năm xưa đó giờ đã trở thành Tổng thống Philippines, ông Benigno Aquino III.


"Họa phúc hữu môi phi nhất nhật". Họa hay phúc thì đều có cội nguồn sâu xa, đâu phải ngày một ngày hai mà sinh ra họa, ra phúc.


Cha của ông Aquino III là một nghị sĩ nổi tiếng cương trực dưới thời nhà độc tài Ferdinand Marcos. Khi chống lại bạo chúa thì hậu quả là nhãn tiền, Benigno Aquino, Jr phải đi tù, rồi sau đó bị ám sát vào năm 1983.


Marcos diệt được một đối thủ chính trị, nhưng nhà độc tài không ngờ rằng cái chết của ông nghị Aquino đã trầm tích thêm những oán hận trong xã hội Philippines, để rồi một ngày nó bùng lên quật ngã chính Marcos.


Và, như một hệ quả, người vợ góa của nghị sĩ bị ám sát thuở xưa - bà Corazon Aquino - đã trở thành tổng thống sau khi Marcos rớt đài. Sau thời kỳ độc tài, người dân Philippines vỡ òa cảm xúc trước thời đại mới, với nhà lãnh đạo khả kính là bà Aquino.


Rồi thời gian trôi nhanh, bà tổng thống ngày xưa cũng già và cũng phải qua đời theo quy luật sinh - lão - bệnh - tử không cưỡng lại được của trời đất. Bà tạ thế hồi năm 2009, ngay trước thềm cuộc bầu cử tổng thống, phải nói là một thời điểm “rất đẹp để chết”.


Cái chết của bà khiến người Philippines nhớ về những ngày vui thuở xưa, khi bà bước lên nắm quyền theo sau những năm tháng tăm tối mang tên Marcos. Cái phúc mà bà tạo dựng ngày ấy người con trai của bà hôm nay hưởng trọn. Ông Aquino III, vốn là một nghị sĩ "thường thường bậc trung", đã trở thành ứng viên tổng thống sáng chói sau cái chết của mẹ mình. Cũng tương tự như bà Aquino, sau cái chết của chồng hồi năm 1983, đã trở thành một chính khách nổi bật. Ông Aquino III đã đắc cử tổng thống vì lẽ đó, vì gia đình ông đã tích phúc qua nhiều năm.


Nhưng đó là chuyện của Philippines. Chả có gì liên quan tới Việt Nam cả.


**

Chuyện chỉ liên quan tới Việt Nam một cách rõ rệt khi cách đây mấy ngày, Tổng thống Aquino III thông báo ông sẽ đi thăm Việt Nam và Indonesia vào tháng 9.


Đây là một điều hệ trọng, cực kỳ hệ trọng. Chuyến công du nước ngoài đầu tiên của một vị tổng thống sau khi nhậm chức thường là chỉ dấu báo hiệu cho những ưu tiên chính sách của ông ta trong nhiệm kỳ vừa chớm nụ.


Trước đây, ông Aquino III từng thông báo sẽ đi thăm Mỹ trước tiên. Giờ thì ông nói sẽ đi Việt NamIndonesia, hai quốc gia có thể được coi là trụ cột tại ASEAN.


Nếu ông Aquino III đi thăm Mỹ thì là bình thường, chẳng có gì đáng nói, vì đằng nào mà Mỹ chẳng phải là anh hai của Philippines. Nhưng việc ông cúp Mỹ để thăm Việt Nam và Indonesia là một chỉ dấu cho thấy vị tổng thống này - sau cái thời lộn xộn của gái đẹp Arroyo - đang hướng chính sách đối ngoại - cũng có thể gọi là đối nội - vào ASEAN.


Thăm Indonesia, có lẽ chuyện quan trọng nhất của ông Aquino III là học hỏi Indonesia trong việc dẹp mấy băng nhóm ly khai. Indonesia đã đập tan tập đoàn ly khai Aceh một cách khá êm, ông Aquino III muốn làm điều tương tự với các nhóm ở quê nhà, đặc biệt là Mặt trận MORO.


Với Việt Nam, thì vấn đề phức tạp hơn. Việt Nam đang là chủ tịch ASEAN nên Philippines, một thành viên của khối, sẽ có rất nhiều chuyện cần đối thoại liên quan đến nội tình của khối. Đồng thời, là láng giềng, Philippines cũng có quá nhiều chuyện khác để nói với Việt Nam. Quan trọng nhất có lẽ là vấn đề Biển Đông.


Dưới thời bà Arroyo, phải nói là Trung Quốc đã làm khá hiệu quả chiến dịch "phân hóa nội bộ chúng nó" bằng các cuộc viếng thăm, những khoản đầu tư tới Philippines và Việt Nam được tính toán rất kỹ cả về thời điểm lẫn hình thức. Nỗ lực của Trung Quốc trong giai đoạn đó hầu như đã làm mối quan hệ Philippines và Việt Nam – trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông - ngưng trệ. Philippines nhiều lần ra đạo luật, dự luật liên quan tới các vùng biển đảo tranh chấp. Việt Nam cũng có những động thái tương tự. Những xung đột lợi ích giữa Philippines và Việt Nam vì thế chẳng thể hóa giải được. Đó chính là thành công trong chiến lược "phân hóa nội bộ" ASEAN mà Bắc Kinh thực hiện.


Giờ thì ông Aquino III tuyên bố sẽ đi thăm Việt NamIndonesia trước tiên. Tuyên bố này được đưa ra khá đường đột, theo sau những biến chuyển mới trong quan hệ Việt - Trung - Mỹ. Có vẻ như ông Aquino III đã nhìn nhận những chuyển biến vừa qua, trong đó có việc Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ, như là một dấu hiệu cho thấy đã đến lúc ASEAN cần hướng tới việc xây dựng một năng lực đối trọng trong mối quan hệ với Trung Quốc. Để đạt được điều này thì cần phải tăng cường sự kết dính trong khối. Mà để tăng cường sự kết dính, trước hết cần phải giải tỏa những lấn cấn để tiến tới xây dựng lòng tin giữa các thành viên, trong đó Việt Nam là một thành viên mà Philippines cần phải tính tới trước hết, vì vị trí địa lý, vì những mâu thuẫn bấy lâu giữa hai nước. Đó chính là nguyên nhân khiến ông Aquino III chọn Hà Nội làm điểm đến đầu tiên.


Mỹ vẫn là đồng minh của Philippines, nhưng cứ để đó tính sau, vì mối đồng minh này khó mất. Quan trọng hơn, đối với Philippines lúc này, là phải xây dựng sự tin tưởng lẫn nhau trong ASEAN.


Sự thay đổi đích đến trong chuyến công du "ra mắt" của ông Aquino III phản ánh sự thay đổi về những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của vị lãnh đạo này.


Sự thay đổi ấy cần được Việt Nam tiếp nhận như là một cơ hội cho chính mình, không chỉ liên quan đến Biển Đông mà còn những mục tiêu dài hơi khác, trong đó có việc củng cố sức mạnh ASEAN như một khối.


Một ASEAN kết dính và cường thịnh sẽ khiến Trung Quốc bớt tác oai tác quái hơn. Một ASEAN kết dính và cường thịnh cần được coi là giải pháp thực tiễn, căn cơ và dài lâu. Việc dựa hơi một ông lớn nào đó ở bên ngoài – như ông Mỹ thực dụng chẳng hạn – chỉ là kế sách thời cuộc mà thôi.


Trái bóng bây giờ không chỉ ở trong tay ông Aquino III. Trái bóng đó còn ở trong tay các vị ngoài Hà Nội.

Hoa nước


Bản tin này trên Thể Thao & Văn Hóa cho biết: "... dự kiến, lễ công bố quốc hoa Việt Nam sẽ diễn ra vào ngày 19/5/2011. Quốc hoa Việt Nam sẽ được tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu trong nước và quốc tế."
Đến nay thì chưa biết quốc hoa sẽ là hoa gì, nhưng việc "người ta" lấy ngày 19.5 - ngày sinh cố Chủ tịch Hồ Chí Minh - để công bố quốc hoa là một ngụ ý sát sườn.
Cụ Hồ xưa ở làng Sen, lại có câu: "Tháp Mười đẹp nhất bông sen, Việt Nam đẹp nhất..."
nên chọn hoa sen sẽ rất chi là... nhân văn và chính trị.
Thôi thì rốt cuộc ta cũng có một cái "hoa nước" cho bằng chị bằng em. Thế là vui rồi.

-----------

Chợt nhớ Phùng Quán...

Hoa sen
Tác giả: Phùng Quán

“Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền
Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen.
Nhưng tôi không thể nào tin được
Câu ca này gốc gác tự nhân dân
Bởi câu ca sặc mùi phản trắc
Của những phường bội nghĩa vong ân!
Vốn con cái của giai cấp cùng khổ
Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến cha mẹ chúng xấu hổ
Chúng mưu toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần chúng mượn chuyện sen


….Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn
Tất cả là trong cái chữ “gần”
Chỉ một chữ mà ta thấu gan thấu ruột
Những manh tâm bội nghĩa vong ân.
Bùn với sen đâu phải chuyện gần?
Chính là sen mọc lên từ trong đó
Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh…
Tất cả, tất cả, tất cả!…
Là do bùn hôi nuôi dưỡng
Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng
Cũng là xương thịt của bùn tanh!
Như nhân dân
Gian truân, thầm lặng, vô danh
Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ…
Nhân danh bùn
Nhân danh sen
Tôi đề nghị:
Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian!

-------------------------

Cụ Phùng Quán không tố hoa sen, mà tố những "phường bội nghĩa vong ân" lợi dụng hoa sen.

Hỏi chuyện chuyên gia


Là một nhà toán học thành danh ở Pháp, Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng đã chia sẻ với tôi những nhận xét của ông về sự kiện Giáo sư Ngô Bảo Châu được trao huy chương Fields cũng như những trăn trở và giải pháp cho nền khoa học – giáo dục nước nhà. Phần đầu bài phỏng vấn này đã được đăng tải ở blog này và một số nơi khác. Giờ tôi đưa lên toàn văn với mục đích chính là lưu trữ tài liệu và nếu bạn nào quan tâm thì đọc.


- Thưa Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, là một người Việt Nam làm khoa học ở nước ngoài, lại cùng ngành toán, ông đánh giá việc GS Ngô Bảo Châu chứng minh thành công Bổ đề Cơ bản và, như một hệ quả, được trao HC Fields như thế nào?

Giải Fields của Ngô Bảo Châu là một niềm tự hào lớn cho Việt Nam, và cho giới toán học của Pháp. Đối với tôi, việc Ngô Bảo Châu được giải thưởng Fields là hoàn toàn xứng đáng và không đáng ngạc nhiên. Ngay từ khi Ngô Bảo Châu giải quyết xong “Fundamental Lemma” của Langlands cách đây khoảng 2 năm, tôi cũng đã dự đoán GS Châu sẽ được giải Fields. Và khi kết quả của GS Châu được báo Time đánh giá là 1 trong 10 kết quả nổi bật nhất của khoa học thế giới năm 2009 thì điều này càng trở nên rõ ràng. Từ đầu năm nay, giới toán học đã có đồn đại nhiều về những ứng cử viên của giải Fields cho năm nay, trong đó Ngô Bảo Châu có thể coi là ứng cử viên được nhiều người ủng hộ nhất.
Thành tích của GS Châu đạt được tất nhiên là do tài năng xuất chúng và sự đam mê toán học của GS Châu mà ai cũng phải công nhận. Ngoài ra còn cần kể đến những điều kiện hết sức thuận lợi khác của GS Châu, mà nhiều người khác không có được: sinh ra trong một gia đình trí thức cao cấp và khá giả, luôn được học trong những điều kiện tốt nhất, kể cả ở bậc phổ thông (Khối chuyên ĐHTH, và còn được một số nhà toán học tốt nhất của Việt Nam luyện riêng), đại học và sau đại học (Ecole Normale Supérieure ở Paris, cái lò sản sinh các nhà toán học ở Pháp), có người thầy đỡ đầu thuộc loại hàng đầu thế giới và rất quan tâm đến học trò (ông Laumon - viện sĩ của Pháp, thầy của 2 giải thưởng Fields), làm việc cũng trong những điều kiện tốt nhất (như ở Paris 11 hay Princeton), không bao giờ phải lo lắng chuyện thiếu tiền (trái với một số thông tin sai lệch, gia đình của Ngô Bảo Châu thuộc loại khá giả tuy không phải triệu phú), luôn có thể yên tâm nghiên cứu toán, có được một bài toán lớn để tập trung làm trong nhiều năm, và tất nhiên là đã tìm được đúng hướng để giải bài toán đó. Để đạt được một thành tích như Ngô Bảo Châu, cần có sự tập trung của rất nhiều yếu tố thuận lợi như vậy, mà ngay cả ở các nước tiên tiến cũng ít người có được, chưa nói đến Việt Nam.
Thành tích của Ngô Bảo Châu một lần nữa chứng tỏ người Việt Nam có khả năng trí tuệ không kém gì thế giới. Nếu chúng ta còn đạt được ít thành quả, đó là do môi trường và điều kiện còn quá thiếu thốn. Nhưng tôi tin rằng, trong tương lai, khi nền kinh tế của Việt Nam mạnh lên, cùng với nền tảng văn hóa chung và khoa học công nghệ mạnh lên, sẽ có không ít người Việt Nam đạt đến đỉnh cao thế giới trong khoa học cũng như trong các lĩnh vực khác.

- Có thể nói rằng đang có một “cơn sốt Ngô Bảo Châu” ở Việt Nam. Theo ông thì phải làm thế nào để những nguồn cảm hứng như Ngô Bảo Châu có một tác động tích cực và dài lâu tới sự phát triển của khoa học trong nước, chứ không chỉ bùng lên rồi tắt lịm như việc người ta hâm mộ một ngôi sao nhạc pop?
Hiện tượng Ngô Bảo Châu sẽ làm cho Việt Nam phấn chấn và quan tâm hơn đến khoa học, và đây là điều rất đáng mừng. Việc Chính phủ phê duyệt đầu tư hơn 600 tỉ đồng cho chương trình trọng điểm toán học có lẽ một phần nhờ vào “hiệu ứng Ngô Bảo Châu”, và tất nhiên điều này có lợi cho sự phát triển của toán học Việt Nam.
Tuy nhiên, như người ta nói, “một cánh én không làm nên mùa xuân”. Để có được một “mùa xuân” cho nền khoa học Việt Nam, thì một vài cánh én như Ngô Bảo Châu chưa đủ. Cái quan trọng nhất là phải có chiến lược và cơ chế tốt, mới có thể thúc đầy khoa học phát triển. Nếu như nền khoa học của chúng ta còn phát triển quá chậm trong vòng 35 năm qua kể từ ngày thống nhất đất nước, thì là do chúng ta đã có nhiều sai lầm về chiến lược và cơ chế. Theo tôi ước tính, hiện tại các nhà khoa học ở Việt Nam mới chỉ tận dụng được khoảng 30% công suất lao động tiềm năng, tức là để lãng phí khoảng 70% khả năng. Cần cải cách mạnh về cơ chế, thay đổi cách quản lý, minh bạch hơn, năng động hơn, chú trọng chất lượng và hiệu quả hơn, coi trọng những người thực tài hơn là những người “leo quan”, tạo môi trường thích hợp cho khoa học công nghệ phát triển, thì nó mới phát triển mạnh được.
Một điểm tôi muốn nhấn mạnh là cần đặc biệt chú trọng nâng đỡ thế hệ trẻ, vì tương lai của đất nước. Những người trẻ và có trình độ thực sự và tâm huyết cần được chú trọng hướng vào các vị trí quan trọng càng sớm càng tốt, để có thể “thay máu”, giúp Việt Nam chóng phát triển, không để phí phạm thêm một thế hệ. Điều này đã được thực hiện ở một vài nơi, ví dụ như các trưởng phó khoa của Khoa Toán ở ĐHQGHN đều còn trẻ. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn nặng các hủ tục như “sống lâu lên lão làng”, hoặc đấu đá quyền lực, và nhiều người trẻ và có trình độ cao vẫn cứ “đợi đấy”. Nhưng đợi đến lúc “đủ tuổi” thì cũng cạn sức rồi, còn thay đổi được gì nữa.

- GS Ngô Bảo Châu khởi đầu con đường học vấn ở trong nước, nhưng phần lớn thời gian trưởng thành khoa học của ông đều ở nước ngoài. Theo ông, với thực trạng giáo dục và khoa học Việt Nam hiện tại, chúng ta có thể tạo ra những nhà khoa học ở tầm quốc tế như thế?
Việc tạo ra các nhà khoa học tầm quốc tế trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại là rất khó (trừ khi có những thay đổi lớn thì cũng cần phải nhiều năm sau mới có một thế hệ đông đảo các nhà khoa học tầm quốc tế). Thực tế hiện tại đã chứng tỏ điều đó.
Không có định nghĩa chính xác thế nào là “tầm quốc tế”, nhưng nếu tính “tầm quốc tế” là có ít nhất 100 nhà khoa học thế giới biết và quan tâm đến công trình của mình, thì số người làm khoa học ở Việt Nam đạt tầm quốc tế còn rất khiêm tốn, có lẽ chưa đầy 100. Ngay ngành toán, có thể coi là ngành mạnh nhất Việt Nam với nhiều công bố quốc tế nhất, cũng có chưa đầy một chục người đạt mức có trên 100 nhà khoa học khác trích dẫn công trình của mình. Trong khi đó, để trở thành một nước mạnh về khoa học, thì cần có hàng nghìn hay hàng vạn người như vậy.
Để đạt được đến tầm quốc tế về khoa học trong điều kiện hiện tại của Việt Nam rất là khó, và những người đạt được có thể phong là “anh hùng”, bởi làm việc trong điều kiện như vậy mà vẫn đạt được, thì phải có tư chất và cố gắng hơn nhiều so với các đồng nghiệp ở nước ngoài đạt kết quả tương tự. Thế nhưng đồng thời đây cũng là sự phí phạm, vì vẫn những “anh hùng” đó, nếu làm việc trong điều kiện tốt hơn, thì họ sẽ không chỉ đạt tầm quốc tế, mà còn có thể lên cao hơn nữa.
Để đạt tầm quốc tế, tài năng bẩm sinh và sự ham mê khoa học mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ, mà còn cần thêm các điều kiện tương tự như Ngô Bảo Châu có được, có thể không ở mức mà Ngô Bảo Châu có được, nhưng cũng không thể ở mức quá tồi. Ví dụ như:
- Nền tảng văn hóa và giáo dục chung (ở Việt Nam còn thấp).
- Sống được đàng hoàng bằng nghề làm khoa học, không phải lo nghĩ về cơm áo gạo tiền, có thể tập trung làm khoa học (ở Việt Nam chưa có, trừ những người có nguồn thu nhập khác).
- Có thầy bà tốt (ở Việt Nam cũng khó có được, vì trong số các giáo sư ở Việt Nam cũng mới chỉ có ít người đạt tầm quốc tế).
- Làm việc trong một nhóm nghiên cứu mạnh, có điều kiện thường xuyên trao đổi với các đồng nghiệp giỏi đang cùng mối quan tâm (nhiều người ở Việt Nam làm việc trong điều kiện cô lập thiếu người chia sẻ, nên dễ đi vào ngõ cụt).
- Làm những vấn đề quan trọng, được nhiều người quan tâm. (Chiểu theo các chỉ số trích dẫn của các công trình đăng tạp chí quốc tế của tác giả Việt Nam, thì phần lớn các công trình của Việt Nam thuộc loại có ít người quan tâm).
- Có đầy đủ điều kiện về máy móc dụng cụ để nghiên cứu, v.v.
Để đạt được tất cả những điều kiện đó, cần có các chính sách chiến lược sáng suốt và một quá trình dài phát triển liên tục trong vòng ít ra mấy thập kỷ, chứ không thể nóng vội muốn “đại nhảy vọt”, “đi tắt đón đầu” trong vòng ít năm.

- Vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã tới thăm gia đình Ngô Bảo Châu và có lời mời đối với GS Châu. Theo GS Nguyễn Tiến Dũng, chính sách trọng dụng nhân tài – đặc biệt là những nhân tài đang làm việc ở nước ngoài –của Việt Nam hiện nay cần phải đi vào những nội dung thiết thực nào để phát huy được hiệu quả cao nhất, chứ không chỉ dừng lại ở một vài hình thức bề nổi?
Nhiều nước đang phát triển sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để thu hút chuyên gia giỏi từ các nơi đến làm việc. Ví dụ, ở Brazil đang tuyển một một số chân phó giáo sư toán với mức lương đến 8.000 USD mỗi tháng, và ứng cử viên có thể mang bất cứ quốc tịch nào. Để có thể cạnh tranh với các nước khác, thu hút được người tài, thì Việt Nam cũng phải có những chính sách hẫp dẫn. Không được đến 8.000 USD mỗi tháng, thì cũng phải được ít ra vài nghìn cộng với các phụ cấp nhà cửa đi lại...
Hiện tại tôi chưa thấy Việt Nam có chế độ đãi ngộ hấp dẫn với các chuyên gia Việt kiều (trừ một vài trường hợp đặc biệt mang tính tuyên truyền). Những người như tôi khi đi công tác các nước khác thường được trả thù lao đàng hoàng, nhưng khi về Việt Nam giúp đỡ các sinh viên và đồng nghiệp thì là làm không công và thậm chí phải chi thêm tiền túi, vì đối tác ở Việt Nam dù là những nơi uy tín nhất về khoa học cũng chỉ trả được một ít tiền tượng trưng không đủ trang trải chi phí. Tôi nghĩ cần thay đổi điều này, có chính sách tốt hơn cho việc thu hút chuyên gia Việt kiều cũng như chuyên gia người nước ngoài đến Việt Nam làm việc.
Vấn đề tiếp theo là, mang người tài vào Việt Nam rồi thì làm gì ? Theo như tôi ước tính, công suất tiềm năng của giới khoa học Việt Nam mới chỉ được sử dụng ở mức 30%, tức là ngay cả những người tài có sẵn trong nước còn chưa được sử dụng thích đáng, vậy mang thêm người về có thừa không? Theo tôi thì không thừa. Sử dụng công suất 30% không phải là vì Việt Nam thiếu việc để làm, mà là vì môi trường dẫn đến hiệu quả làm việc kém, chứ các vấn đề cần nghiên cứu ở Việt Nam không thiếu, trái lại rất nhiều, không đủ người mà nghiên cứu. Bởi vậy song song với việc nâng cao hiệu quả lao động của người trong nước, việc có thêm chuyên gia Việt Kiều hay người nước ngoài về nước cũng là yếu tố cần thiết cho Việt Nam phát triển.
Các chuyên gia Việt Kiều hay nước ngoài có thể đem lại những thứ quí báu như:
- Cung cách làm việc mới, quản lý mới
- Các giải pháp mới cho những vấn đề tồn đọng ở Việt Nam
- Giúp Việt Nam xây dựng chiến lược phát triển
- Các hướng nghiên cứu mới, thiết thực hơn, hay được thế giới quan tâm hơn
- Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu ở Việt Nam
- Thiết lập các quan hệ quốc tế
Để phát huy được những điều trên, các chuyên gia từ nước ngoài cần được tạo điều kiện để có thể tự do phát huy khả năng của họ, chứ nếu họ cũng bị “trói chân trói tay” theo những cơ chế bất hợp lý của Việt Nam, thì sự hiện diện của họ ở Việt Nam cũng sẽ bị rất lãng phí, kém hiệu quả.
Trung Quốc có chiến lược mời các nhà khoa học Hoa kiều ở nước ngoài đang độ tuổi sung sức (trên dưới 40) về Trung Quốc để làm lãnh đạo các viện hay các nhóm nghiên cứu, với các chính sách rất hấp dẫn (ví dụ trả lương cao ít ra tương đương phương Tây và thưởng ngay 100.000 USD hoặc hơn cho những ai đồng ý về Trung Quốc). Trong điểm này và nhiều điểm khác, Việt Nam cần học tập Trung Quốc. Không phải vô cớ mà họ luôn phát triển nhanh hơn Việt Nam về kinh tế mỗi năm vài phần trăm trong mấy thập kỷ qua.

- Một trong những bất cập lớn nhất hiện nay là chế độ đãi ngộ – hay nói cụ thể là đồng lương cho các nhà khoa học. Một giáo sư tài danh của Việt Nam ở nước ngoài chắc chắn không thể về nước làm việc với mức lương vài triệu đồng, một nhà khoa học trong nước cũng không thể tập trung 100% tâm lực cho công tác nghiên cứu với mức lương ấy, vậy thì chúng ta phải giải quyết bất cập này như thế nào?
Tôi đã có viết một bài dài, về vấn đề tài chính trong đại học và nghiên cứu khoa học, đăng báo Tia Sáng đầu năm nay. Như người ta nói, “tiền nào của đấy”, lương vài triệu một tháng mà đòi đạt tầm cỡ quốc tế, thì còn khó tin hơn chuyện viễn tưởng. Một số cải cách mà tôi đề nghị đưa ra là:
- Cải cách (hay xây dựng lại) một cách cơ bản cơ chế quản lý tài chính trong đại học & nghiên cứu khoa học, đầu tư thêm tiền và cho thêm các đơn vị quyền tự chủ cao hơn, xóa bỏ các luật lệ cổ hủ từ thời bao cấp.
- Tính lại công suất lao động của giới đại học và khoa học, giá trị của các giờ lên lớp, giá trị của công việc đào tạo từng sinh viên, và giá trị của công việc nghiên cứu, qua đó trả lương xứng đáng với công suất lao động của giới đại học và khoa học. Theo các tính toán của tôi, công việc đào tạo một sinh viên trung bình phải được tính là có giá trị về kinh tế khoảng hơn 2.000 USD mỗi năm (mới chỉ là 1/10 so với thế giới), chứ không chỉ có vài trăm USD mỗi năm như đang được tính hiện nay. Vì chúng ta đang tính giá trị đào tạo sinh viên quá thấp so với thực tế, nên hệ quả là các trường đại học được đầu tư quá ít và trả lương cho giảng viên quá thấp (trừ một vài đại học tư). Trung bình một giảng viên đại học ở Việt Nam hiện tại có công suất lao động gần 30.000 USD mỗi năm, và phải được hưởng thu nhập trung bình 10.000 USD mỗi năm mới xứng đáng với công suất lao động đó, thay vì không đến 3.000 USD mỗi năm kể cả phụ cấp như hiện nay.
- Để tránh chuyện ghen tị giữa các ngành, ngành đại học và khoa học không nhất thiết cần đòi tăng lương cơ bản (mà lương chính thức nay đã thấp ở mức chỉ còn là “tượng trưng”), mà thay vào cần tăng mạnh các phụ cấp: như phụ cấp giảng dạy và phụ cấp nghiên cứu, để đảm bảo thu nhập của người trong ngành, đặc biệt là những người tích cực làm việc và có hiệu quả thì cần đãi ngộ cho họ thật tốt dưới các hình thức phụ cấp và tiền thưởng. Ngoài việc cần có cải cách chung và mạnh mẽ về chính sách lương bổng cho toàn đất nước, từng ngành cần tìm những giải pháp cho mình.
- Đẩy mạnh sự kết nối giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng, giữa các trường các viện và các doanh nghiệp, qua đó giới khoa học có được các đề tài thiết thực cho sự phát triển của nền kinh tế và đồng thời tăng thu nhập cho người làm khoa học, v.v.
Việc thành lập quĩ NAFOSTED, qua đó những người làm khoa học có kết quả tốt có thể có phụ cấp nghiên cứu khá lớn, là một hướng phát triển tốt. Tuy nhiên chỉ có NAFOSTED thôi thì chưa đủ, cần đẩy mạnh cải cách về quản lý tài chính trong khoa học hơn nhiều nữa.

- Ông là một người rất quan tâm tới giáo dục trong nước, cũng như quan tâm tới các tài năng Việt ở khắp thế giới. Cách đây ít lâu, ông đã lập một “cơ sở dữ liệu” về các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài, dường như ông muốn có một sự kết nối Việt nào đó ở tầm toàn cầu?
Việt Nam muốn phát triển thì phải hội nhập thế giới. Mục tiêu quan trọng nhất mà Việt Nam cần đặt ra cho mình, không phải là được bao nhiêu giải này hay giải nọ, đứng thứ mấy về môn này hay môn nọ, mà là bắt nhịp được với sự phát triển của thế giới, hòa đồng vào với thế giới, trở thành một nước văn minh lịch sự và có thu nhập ngang bằng nhiều nước tiên tiến, như Đài Loan hay Hàn Quốc, những nước mà cách đây nửa thế kỷ không hơn gì Việt Nam, đã đạt được. Sự phát triển khoa học công nghệ nằm trong mục tiêu đó, và sự kết nối giữa nền khoa học Việt Nam với toàn cầu cũng nằm trong mục tiêu đó.
Nói riêng về toán học, thì lực lượng người gốc Việt làm toán ở nước ngoài khá lớn, tính về số người thì có khoảng trên 100 người nhưng nếu tính về số kết quả đạt được thì lớn hơn tổng cộng ở trong nước. Họ có thể trở thành động lực lớn cho sự phát triển nền toán học Việt Nam, và giúp Việt Nam thiết lập nhiều quan hệ với thế giới, nếu Việt Nam có được các chính sách hấp dẫn để lôi kéo họ. Đó là điều mà không chỉ riêng tôi, mà rất nhiều đồng nghiệp người Việt ở trong và ngoài nước mong muốn. Có nhiều nhà toán học Việt kiều có tiếng, như Lê Dũng Tráng, Lê Tự Quốc Thắng, Vũ Hà Văn, Phạm Hữu Tiệp, Đinh Tiến Cường, Vũ Kim Tuấn, Đinh Thế Lục, v.v. cũng đang cố gắng kết nối Việt Nam với toàn cầu về toán học.

- Vừa qua có một số chuyển động khá quan trọng đối với nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, chẳng hạn như sự ra đời của quỹ NAFOSTED, hay dự án thành lập Viện nghiên cứu và đào tạo cao cấp về toán, ông có cho rằng đó là những chuyển động tích cực? Và là một nhà khoa học đang làm việc tại nước ngoài, ông sẽ tham gia vào những chuyển động ấy ở tầm mức nào?
Quĩ NAFOSTED là một bước đi đúng đắn trong chính sách phát triển khoa học của Việt Nam. Đặc biệt là sự minh bạch của quĩ, là điều “chưa từng có” ở Việt Nam. Hiện tại quĩ mới chỉ quản một phần khá nhỏ (không quá 5%?) đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Theo tôi nên tăng tỷ lệ tài chính cho quĩ quản lý lên, vì đây là cách quản lý hiệu quả và có trách nhiệm.
Việc thành lập Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán là một thuận lợi cho nền toán học Việt Nam. Nó đóng góp được đến đâu, còn phụ thuộc vào chiến lược và cách quản lý của Viện. Nền toán học Việt Nam có một số điểm mạnh, nhưng cũng còn nhiều điểm rất yếu, đặc biệt là trong việc ứng dụng toán học, và các ngành cần thiết nhiều cho ứng dụng tại thời điểm hiện tại, và chưa có một Viện Toán Ứng Dụng nào xứng đáng tầm cỡ quốc gia. Tôi hy vọng rằng sẽ có một viện toán ứng dụng mạnh ở Việt Nam, hoặc ít ra Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán sẽ chú trọng nhiều hơn đến các ứng dụng của toán học.
Việc tôi tham gia vào các chuyển động ở Việt Nam đến tầm mức nào còn phụ thuộc vào việc phía Việt Nam có thấy cần tôi hay không, có mời tôi tham gia hay không. Bản thân tôi, nếu được mời tham gia làm những gì mà tôi thấy thực sự có nhiều ý nghĩa cho đất nước thì tôi luôn sẵn sàng tham gia. Gần đây tôi có tham gia vào ban điều hành của chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán. Việc tôi đang cố gắng làm tại thời điểm hiện tại là giúp Việt Nam xây dựng các chiến lược và chính sách, cơ chế tiến bộ, thích hợp, thuận lợi cho việc phát triển khoa học cũng như ứng dụng khoa học công nghệ vào các vấn đề thiết thực của đất nước. Ví dụ, tôi đã vận động để các chuyên ngành xác suất thống kê và toán kinh tế tài chính trở thành những trọng điểm trong chiến lược phát triển toán học Việt Nam trong giai đoạn tới, vì đây là những chuyên ngành toán ứng dụng đang rất cần thiết cho Việt Nam nhưng lại đang có quá ít chuyên gia Việt Nam, tuy rằng bản thân tôi xuất phát điểm là làm toán lý thuyết chứ không phải là làm về những chuyên ngành này.
- Xin cảm ơn Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng.