Là một nhà toán học thành danh ở Pháp, Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng đã chia sẻ với tôi những nhận xét của ông về sự kiện Giáo sư Ngô Bảo Châu được trao huy chương Fields cũng như những trăn trở và giải pháp cho nền khoa học – giáo dục nước nhà. Phần đầu bài phỏng vấn này đã được đăng tải ở blog này và một số nơi khác. Giờ tôi đưa lên toàn văn với mục đích chính là lưu trữ tài liệu và nếu bạn nào quan tâm thì đọc.
- Thưa Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng, là một người Việt Nam làm khoa học ở nước ngoài, lại cùng ngành toán, ông đánh giá việc GS Ngô Bảo Châu chứng minh thành công Bổ đề Cơ bản và, như một hệ quả, được trao HC Fields như thế nào?
Giải Fields của Ngô Bảo Châu là một niềm tự hào lớn cho Việt Nam, và cho giới toán học của Pháp. Đối với tôi, việc Ngô Bảo Châu được giải thưởng Fields là hoàn toàn xứng đáng và không đáng ngạc nhiên. Ngay từ khi Ngô Bảo Châu giải quyết xong “Fundamental Lemma” của Langlands cách đây khoảng 2 năm, tôi cũng đã dự đoán GS Châu sẽ được giải Fields. Và khi kết quả của GS Châu được báo Time đánh giá là 1 trong 10 kết quả nổi bật nhất của khoa học thế giới năm 2009 thì điều này càng trở nên rõ ràng. Từ đầu năm nay, giới toán học đã có đồn đại nhiều về những ứng cử viên của giải Fields cho năm nay, trong đó Ngô Bảo Châu có thể coi là ứng cử viên được nhiều người ủng hộ nhất.
Thành tích của GS Châu đạt được tất nhiên là do tài năng xuất chúng và sự đam mê toán học của GS Châu mà ai cũng phải công nhận. Ngoài ra còn cần kể đến những điều kiện hết sức thuận lợi khác của GS Châu, mà nhiều người khác không có được: sinh ra trong một gia đình trí thức cao cấp và khá giả, luôn được học trong những điều kiện tốt nhất, kể cả ở bậc phổ thông (Khối chuyên ĐHTH, và còn được một số nhà toán học tốt nhất của Việt Nam luyện riêng), đại học và sau đại học (Ecole Normale Supérieure ở Paris, cái lò sản sinh các nhà toán học ở Pháp), có người thầy đỡ đầu thuộc loại hàng đầu thế giới và rất quan tâm đến học trò (ông Laumon - viện sĩ của Pháp, thầy của 2 giải thưởng Fields), làm việc cũng trong những điều kiện tốt nhất (như ở Paris 11 hay Princeton), không bao giờ phải lo lắng chuyện thiếu tiền (trái với một số thông tin sai lệch, gia đình của Ngô Bảo Châu thuộc loại khá giả tuy không phải triệu phú), luôn có thể yên tâm nghiên cứu toán, có được một bài toán lớn để tập trung làm trong nhiều năm, và tất nhiên là đã tìm được đúng hướng để giải bài toán đó. Để đạt được một thành tích như Ngô Bảo Châu, cần có sự tập trung của rất nhiều yếu tố thuận lợi như vậy, mà ngay cả ở các nước tiên tiến cũng ít người có được, chưa nói đến Việt Nam.
Thành tích của Ngô Bảo Châu một lần nữa chứng tỏ người Việt Nam có khả năng trí tuệ không kém gì thế giới. Nếu chúng ta còn đạt được ít thành quả, đó là do môi trường và điều kiện còn quá thiếu thốn. Nhưng tôi tin rằng, trong tương lai, khi nền kinh tế của Việt Nam mạnh lên, cùng với nền tảng văn hóa chung và khoa học công nghệ mạnh lên, sẽ có không ít người Việt Nam đạt đến đỉnh cao thế giới trong khoa học cũng như trong các lĩnh vực khác.
- Có thể nói rằng đang có một “cơn sốt Ngô Bảo Châu” ở Việt Nam. Theo ông thì phải làm thế nào để những nguồn cảm hứng như Ngô Bảo Châu có một tác động tích cực và dài lâu tới sự phát triển của khoa học trong nước, chứ không chỉ bùng lên rồi tắt lịm như việc người ta hâm mộ một ngôi sao nhạc pop?
Hiện tượng Ngô Bảo Châu sẽ làm cho Việt Nam phấn chấn và quan tâm hơn đến khoa học, và đây là điều rất đáng mừng. Việc Chính phủ phê duyệt đầu tư hơn 600 tỉ đồng cho chương trình trọng điểm toán học có lẽ một phần nhờ vào “hiệu ứng Ngô Bảo Châu”, và tất nhiên điều này có lợi cho sự phát triển của toán học Việt Nam.
Tuy nhiên, như người ta nói, “một cánh én không làm nên mùa xuân”. Để có được một “mùa xuân” cho nền khoa học Việt Nam, thì một vài cánh én như Ngô Bảo Châu chưa đủ. Cái quan trọng nhất là phải có chiến lược và cơ chế tốt, mới có thể thúc đầy khoa học phát triển. Nếu như nền khoa học của chúng ta còn phát triển quá chậm trong vòng 35 năm qua kể từ ngày thống nhất đất nước, thì là do chúng ta đã có nhiều sai lầm về chiến lược và cơ chế. Theo tôi ước tính, hiện tại các nhà khoa học ở Việt Nam mới chỉ tận dụng được khoảng 30% công suất lao động tiềm năng, tức là để lãng phí khoảng 70% khả năng. Cần cải cách mạnh về cơ chế, thay đổi cách quản lý, minh bạch hơn, năng động hơn, chú trọng chất lượng và hiệu quả hơn, coi trọng những người thực tài hơn là những người “leo quan”, tạo môi trường thích hợp cho khoa học công nghệ phát triển, thì nó mới phát triển mạnh được.
Một điểm tôi muốn nhấn mạnh là cần đặc biệt chú trọng nâng đỡ thế hệ trẻ, vì tương lai của đất nước. Những người trẻ và có trình độ thực sự và tâm huyết cần được chú trọng hướng vào các vị trí quan trọng càng sớm càng tốt, để có thể “thay máu”, giúp Việt Nam chóng phát triển, không để phí phạm thêm một thế hệ. Điều này đã được thực hiện ở một vài nơi, ví dụ như các trưởng phó khoa của Khoa Toán ở ĐHQGHN đều còn trẻ. Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn còn nặng các hủ tục như “sống lâu lên lão làng”, hoặc đấu đá quyền lực, và nhiều người trẻ và có trình độ cao vẫn cứ “đợi đấy”. Nhưng đợi đến lúc “đủ tuổi” thì cũng cạn sức rồi, còn thay đổi được gì nữa.
- GS Ngô Bảo Châu khởi đầu con đường học vấn ở trong nước, nhưng phần lớn thời gian trưởng thành khoa học của ông đều ở nước ngoài. Theo ông, với thực trạng giáo dục và khoa học Việt Nam hiện tại, chúng ta có thể tạo ra những nhà khoa học ở tầm quốc tế như thế?
Việc tạo ra các nhà khoa học tầm quốc tế trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại là rất khó (trừ khi có những thay đổi lớn thì cũng cần phải nhiều năm sau mới có một thế hệ đông đảo các nhà khoa học tầm quốc tế). Thực tế hiện tại đã chứng tỏ điều đó.
Không có định nghĩa chính xác thế nào là “tầm quốc tế”, nhưng nếu tính “tầm quốc tế” là có ít nhất 100 nhà khoa học thế giới biết và quan tâm đến công trình của mình, thì số người làm khoa học ở Việt Nam đạt tầm quốc tế còn rất khiêm tốn, có lẽ chưa đầy 100. Ngay ngành toán, có thể coi là ngành mạnh nhất Việt Nam với nhiều công bố quốc tế nhất, cũng có chưa đầy một chục người đạt mức có trên 100 nhà khoa học khác trích dẫn công trình của mình. Trong khi đó, để trở thành một nước mạnh về khoa học, thì cần có hàng nghìn hay hàng vạn người như vậy.
Để đạt được đến tầm quốc tế về khoa học trong điều kiện hiện tại của Việt Nam rất là khó, và những người đạt được có thể phong là “anh hùng”, bởi làm việc trong điều kiện như vậy mà vẫn đạt được, thì phải có tư chất và cố gắng hơn nhiều so với các đồng nghiệp ở nước ngoài đạt kết quả tương tự. Thế nhưng đồng thời đây cũng là sự phí phạm, vì vẫn những “anh hùng” đó, nếu làm việc trong điều kiện tốt hơn, thì họ sẽ không chỉ đạt tầm quốc tế, mà còn có thể lên cao hơn nữa.
Để đạt tầm quốc tế, tài năng bẩm sinh và sự ham mê khoa học mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa phải điều kiện đủ, mà còn cần thêm các điều kiện tương tự như Ngô Bảo Châu có được, có thể không ở mức mà Ngô Bảo Châu có được, nhưng cũng không thể ở mức quá tồi. Ví dụ như:
- Nền tảng văn hóa và giáo dục chung (ở Việt Nam còn thấp).
- Sống được đàng hoàng bằng nghề làm khoa học, không phải lo nghĩ về cơm áo gạo tiền, có thể tập trung làm khoa học (ở Việt Nam chưa có, trừ những người có nguồn thu nhập khác).
- Có thầy bà tốt (ở Việt Nam cũng khó có được, vì trong số các giáo sư ở Việt Nam cũng mới chỉ có ít người đạt tầm quốc tế).
- Làm việc trong một nhóm nghiên cứu mạnh, có điều kiện thường xuyên trao đổi với các đồng nghiệp giỏi đang cùng mối quan tâm (nhiều người ở Việt Nam làm việc trong điều kiện cô lập thiếu người chia sẻ, nên dễ đi vào ngõ cụt).
- Làm những vấn đề quan trọng, được nhiều người quan tâm. (Chiểu theo các chỉ số trích dẫn của các công trình đăng tạp chí quốc tế của tác giả Việt Nam, thì phần lớn các công trình của Việt Nam thuộc loại có ít người quan tâm).
- Có đầy đủ điều kiện về máy móc dụng cụ để nghiên cứu, v.v.
Để đạt được tất cả những điều kiện đó, cần có các chính sách chiến lược sáng suốt và một quá trình dài phát triển liên tục trong vòng ít ra mấy thập kỷ, chứ không thể nóng vội muốn “đại nhảy vọt”, “đi tắt đón đầu” trong vòng ít năm.
- Vừa qua, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã tới thăm gia đình Ngô Bảo Châu và có lời mời đối với GS Châu. Theo GS Nguyễn Tiến Dũng, chính sách trọng dụng nhân tài – đặc biệt là những nhân tài đang làm việc ở nước ngoài –của Việt Nam hiện nay cần phải đi vào những nội dung thiết thực nào để phát huy được hiệu quả cao nhất, chứ không chỉ dừng lại ở một vài hình thức bề nổi?
Nhiều nước đang phát triển sẵn sàng bỏ ra nhiều tiền để thu hút chuyên gia giỏi từ các nơi đến làm việc. Ví dụ, ở Brazil đang tuyển một một số chân phó giáo sư toán với mức lương đến 8.000 USD mỗi tháng, và ứng cử viên có thể mang bất cứ quốc tịch nào. Để có thể cạnh tranh với các nước khác, thu hút được người tài, thì Việt Nam cũng phải có những chính sách hẫp dẫn. Không được đến 8.000 USD mỗi tháng, thì cũng phải được ít ra vài nghìn cộng với các phụ cấp nhà cửa đi lại...
Hiện tại tôi chưa thấy Việt Nam có chế độ đãi ngộ hấp dẫn với các chuyên gia Việt kiều (trừ một vài trường hợp đặc biệt mang tính tuyên truyền). Những người như tôi khi đi công tác các nước khác thường được trả thù lao đàng hoàng, nhưng khi về Việt Nam giúp đỡ các sinh viên và đồng nghiệp thì là làm không công và thậm chí phải chi thêm tiền túi, vì đối tác ở Việt Nam dù là những nơi uy tín nhất về khoa học cũng chỉ trả được một ít tiền tượng trưng không đủ trang trải chi phí. Tôi nghĩ cần thay đổi điều này, có chính sách tốt hơn cho việc thu hút chuyên gia Việt kiều cũng như chuyên gia người nước ngoài đến Việt Nam làm việc.
Vấn đề tiếp theo là, mang người tài vào Việt Nam rồi thì làm gì ? Theo như tôi ước tính, công suất tiềm năng của giới khoa học Việt Nam mới chỉ được sử dụng ở mức 30%, tức là ngay cả những người tài có sẵn trong nước còn chưa được sử dụng thích đáng, vậy mang thêm người về có thừa không? Theo tôi thì không thừa. Sử dụng công suất 30% không phải là vì Việt Nam thiếu việc để làm, mà là vì môi trường dẫn đến hiệu quả làm việc kém, chứ các vấn đề cần nghiên cứu ở Việt Nam không thiếu, trái lại rất nhiều, không đủ người mà nghiên cứu. Bởi vậy song song với việc nâng cao hiệu quả lao động của người trong nước, việc có thêm chuyên gia Việt Kiều hay người nước ngoài về nước cũng là yếu tố cần thiết cho Việt Nam phát triển.
Các chuyên gia Việt Kiều hay nước ngoài có thể đem lại những thứ quí báu như:
- Cung cách làm việc mới, quản lý mới
- Các giải pháp mới cho những vấn đề tồn đọng ở Việt Nam
- Giúp Việt Nam xây dựng chiến lược phát triển
- Các hướng nghiên cứu mới, thiết thực hơn, hay được thế giới quan tâm hơn
- Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu ở Việt Nam
- Thiết lập các quan hệ quốc tế
Để phát huy được những điều trên, các chuyên gia từ nước ngoài cần được tạo điều kiện để có thể tự do phát huy khả năng của họ, chứ nếu họ cũng bị “trói chân trói tay” theo những cơ chế bất hợp lý của Việt Nam, thì sự hiện diện của họ ở Việt Nam cũng sẽ bị rất lãng phí, kém hiệu quả.
Trung Quốc có chiến lược mời các nhà khoa học Hoa kiều ở nước ngoài đang độ tuổi sung sức (trên dưới 40) về Trung Quốc để làm lãnh đạo các viện hay các nhóm nghiên cứu, với các chính sách rất hấp dẫn (ví dụ trả lương cao ít ra tương đương phương Tây và thưởng ngay 100.000 USD hoặc hơn cho những ai đồng ý về Trung Quốc). Trong điểm này và nhiều điểm khác, Việt Nam cần học tập Trung Quốc. Không phải vô cớ mà họ luôn phát triển nhanh hơn Việt Nam về kinh tế mỗi năm vài phần trăm trong mấy thập kỷ qua.
- Một trong những bất cập lớn nhất hiện nay là chế độ đãi ngộ – hay nói cụ thể là đồng lương cho các nhà khoa học. Một giáo sư tài danh của Việt Nam ở nước ngoài chắc chắn không thể về nước làm việc với mức lương vài triệu đồng, một nhà khoa học trong nước cũng không thể tập trung 100% tâm lực cho công tác nghiên cứu với mức lương ấy, vậy thì chúng ta phải giải quyết bất cập này như thế nào?
Tôi đã có viết một bài dài, về vấn đề tài chính trong đại học và nghiên cứu khoa học, đăng báo Tia Sáng đầu năm nay. Như người ta nói, “tiền nào của đấy”, lương vài triệu một tháng mà đòi đạt tầm cỡ quốc tế, thì còn khó tin hơn chuyện viễn tưởng. Một số cải cách mà tôi đề nghị đưa ra là:
- Cải cách (hay xây dựng lại) một cách cơ bản cơ chế quản lý tài chính trong đại học & nghiên cứu khoa học, đầu tư thêm tiền và cho thêm các đơn vị quyền tự chủ cao hơn, xóa bỏ các luật lệ cổ hủ từ thời bao cấp.
- Tính lại công suất lao động của giới đại học và khoa học, giá trị của các giờ lên lớp, giá trị của công việc đào tạo từng sinh viên, và giá trị của công việc nghiên cứu, qua đó trả lương xứng đáng với công suất lao động của giới đại học và khoa học. Theo các tính toán của tôi, công việc đào tạo một sinh viên trung bình phải được tính là có giá trị về kinh tế khoảng hơn 2.000 USD mỗi năm (mới chỉ là 1/10 so với thế giới), chứ không chỉ có vài trăm USD mỗi năm như đang được tính hiện nay. Vì chúng ta đang tính giá trị đào tạo sinh viên quá thấp so với thực tế, nên hệ quả là các trường đại học được đầu tư quá ít và trả lương cho giảng viên quá thấp (trừ một vài đại học tư). Trung bình một giảng viên đại học ở Việt Nam hiện tại có công suất lao động gần 30.000 USD mỗi năm, và phải được hưởng thu nhập trung bình 10.000 USD mỗi năm mới xứng đáng với công suất lao động đó, thay vì không đến 3.000 USD mỗi năm kể cả phụ cấp như hiện nay.
- Để tránh chuyện ghen tị giữa các ngành, ngành đại học và khoa học không nhất thiết cần đòi tăng lương cơ bản (mà lương chính thức nay đã thấp ở mức chỉ còn là “tượng trưng”), mà thay vào cần tăng mạnh các phụ cấp: như phụ cấp giảng dạy và phụ cấp nghiên cứu, để đảm bảo thu nhập của người trong ngành, đặc biệt là những người tích cực làm việc và có hiệu quả thì cần đãi ngộ cho họ thật tốt dưới các hình thức phụ cấp và tiền thưởng. Ngoài việc cần có cải cách chung và mạnh mẽ về chính sách lương bổng cho toàn đất nước, từng ngành cần tìm những giải pháp cho mình.
- Đẩy mạnh sự kết nối giữa nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng, giữa các trường các viện và các doanh nghiệp, qua đó giới khoa học có được các đề tài thiết thực cho sự phát triển của nền kinh tế và đồng thời tăng thu nhập cho người làm khoa học, v.v.
Việc thành lập quĩ NAFOSTED, qua đó những người làm khoa học có kết quả tốt có thể có phụ cấp nghiên cứu khá lớn, là một hướng phát triển tốt. Tuy nhiên chỉ có NAFOSTED thôi thì chưa đủ, cần đẩy mạnh cải cách về quản lý tài chính trong khoa học hơn nhiều nữa.
- Ông là một người rất quan tâm tới giáo dục trong nước, cũng như quan tâm tới các tài năng Việt ở khắp thế giới. Cách đây ít lâu, ông đã lập một “cơ sở dữ liệu” về các nhà toán học Việt Nam ở nước ngoài, dường như ông muốn có một sự kết nối Việt nào đó ở tầm toàn cầu?
Việt Nam muốn phát triển thì phải hội nhập thế giới. Mục tiêu quan trọng nhất mà Việt Nam cần đặt ra cho mình, không phải là được bao nhiêu giải này hay giải nọ, đứng thứ mấy về môn này hay môn nọ, mà là bắt nhịp được với sự phát triển của thế giới, hòa đồng vào với thế giới, trở thành một nước văn minh lịch sự và có thu nhập ngang bằng nhiều nước tiên tiến, như Đài Loan hay Hàn Quốc, những nước mà cách đây nửa thế kỷ không hơn gì Việt Nam, đã đạt được. Sự phát triển khoa học công nghệ nằm trong mục tiêu đó, và sự kết nối giữa nền khoa học Việt Nam với toàn cầu cũng nằm trong mục tiêu đó.
Nói riêng về toán học, thì lực lượng người gốc Việt làm toán ở nước ngoài khá lớn, tính về số người thì có khoảng trên 100 người nhưng nếu tính về số kết quả đạt được thì lớn hơn tổng cộng ở trong nước. Họ có thể trở thành động lực lớn cho sự phát triển nền toán học Việt Nam, và giúp Việt Nam thiết lập nhiều quan hệ với thế giới, nếu Việt Nam có được các chính sách hấp dẫn để lôi kéo họ. Đó là điều mà không chỉ riêng tôi, mà rất nhiều đồng nghiệp người Việt ở trong và ngoài nước mong muốn. Có nhiều nhà toán học Việt kiều có tiếng, như Lê Dũng Tráng, Lê Tự Quốc Thắng, Vũ Hà Văn, Phạm Hữu Tiệp, Đinh Tiến Cường, Vũ Kim Tuấn, Đinh Thế Lục, v.v. cũng đang cố gắng kết nối Việt Nam với toàn cầu về toán học.
- Vừa qua có một số chuyển động khá quan trọng đối với nghiên cứu khoa học ở Việt Nam, chẳng hạn như sự ra đời của quỹ NAFOSTED, hay dự án thành lập Viện nghiên cứu và đào tạo cao cấp về toán, ông có cho rằng đó là những chuyển động tích cực? Và là một nhà khoa học đang làm việc tại nước ngoài, ông sẽ tham gia vào những chuyển động ấy ở tầm mức nào?
Quĩ NAFOSTED là một bước đi đúng đắn trong chính sách phát triển khoa học của Việt Nam. Đặc biệt là sự minh bạch của quĩ, là điều “chưa từng có” ở Việt Nam. Hiện tại quĩ mới chỉ quản một phần khá nhỏ (không quá 5%?) đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học ở Việt Nam. Theo tôi nên tăng tỷ lệ tài chính cho quĩ quản lý lên, vì đây là cách quản lý hiệu quả và có trách nhiệm.
Việc thành lập Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán là một thuận lợi cho nền toán học Việt Nam. Nó đóng góp được đến đâu, còn phụ thuộc vào chiến lược và cách quản lý của Viện. Nền toán học Việt Nam có một số điểm mạnh, nhưng cũng còn nhiều điểm rất yếu, đặc biệt là trong việc ứng dụng toán học, và các ngành cần thiết nhiều cho ứng dụng tại thời điểm hiện tại, và chưa có một Viện Toán Ứng Dụng nào xứng đáng tầm cỡ quốc gia. Tôi hy vọng rằng sẽ có một viện toán ứng dụng mạnh ở Việt Nam, hoặc ít ra Viện nghiên cứu đào tạo cao cấp về toán sẽ chú trọng nhiều hơn đến các ứng dụng của toán học.
Việc tôi tham gia vào các chuyển động ở Việt Nam đến tầm mức nào còn phụ thuộc vào việc phía Việt Nam có thấy cần tôi hay không, có mời tôi tham gia hay không. Bản thân tôi, nếu được mời tham gia làm những gì mà tôi thấy thực sự có nhiều ý nghĩa cho đất nước thì tôi luôn sẵn sàng tham gia. Gần đây tôi có tham gia vào ban điều hành của chương trình hợp tác Pháp-Việt về toán. Việc tôi đang cố gắng làm tại thời điểm hiện tại là giúp Việt Nam xây dựng các chiến lược và chính sách, cơ chế tiến bộ, thích hợp, thuận lợi cho việc phát triển khoa học cũng như ứng dụng khoa học công nghệ vào các vấn đề thiết thực của đất nước. Ví dụ, tôi đã vận động để các chuyên ngành xác suất thống kê và toán kinh tế tài chính trở thành những trọng điểm trong chiến lược phát triển toán học Việt Nam trong giai đoạn tới, vì đây là những chuyên ngành toán ứng dụng đang rất cần thiết cho Việt Nam nhưng lại đang có quá ít chuyên gia Việt Nam, tuy rằng bản thân tôi xuất phát điểm là làm toán lý thuyết chứ không phải là làm về những chuyên ngành này.
- Xin cảm ơn Giáo sư Nguyễn Tiến Dũng.