27.2.10

Báng bổ...


Tin cho hay lãnh đạo báo Politiken của Đan Mạch vừa lên tiếng xin lỗi về việc họ đã đăng lại bức biếm họa nhà tiên tri đạo Hồi Muhammad quấn khăn hình trái bom vào năm 2008. Politiken nói rằng lời xin lỗi này là một phần của cuộc dàn xếp với các nhóm Hồi giáo ở Trung Đông và Úc.

Tổng biên tập Toeger Seidenfaden nói hôm 26.2: "Chúng tôi xin lỗi bất cứ người nào bị xúc phạm bởi việc chúng tôi đã đăng lại hình biếm họa".

Nhưng xin lỗi là một chuyện, thừa nhận sai trái là chuyện khác.

Ở đây, tờ báo Đan Mạch không nhận mình đã làm sai, hay nói cách khác họ bảo lưu quyền đăng tải bất cứ thứ gì theo tinh thần của tự do ngôn luận.

"Chúng tôi có quyền đăng tải các họa phẩm của Kurt Westergaard, chúng tôi có quyền đăng tải 12 bức họa nguyên gốc đó, chúng tôi có quyền đăng tải tất cả các bức biếm họa nào trên thế giới. Chúng tôi chỉ xin lỗi về việc đã làm ai đó bị tổn thương. Đó chính là mục đích của việc xin lỗi", ông Seidengaden nói.

Rất rành mạch.

Trong vụ biếm họa Muhammad, thực ra Politiken chỉ là tờ báo (xin lỗi nếu ai đó cảm thấy tổn thương) theo đóm ăn tàn. Nổ phát súng đầu tiên là báo Jyllands-Posten, cũng của Đan Mạch.

Một ngày đẹp trời nọ, vào năm 2005, mấy ông ký giả rửng mỡ xứ nàng tiên cá đột nhiên muốn thử giới hạn của tự do báo chí, muốn dùng quỳ tím để xem phản ứng của người Hồi giáo. Thế là họ tương hình biếm họa vị thánh của đạo Hồi lên báo.

Trong đạo Hồi, ngay cả việc vẽ hình Muhammad thôi đã là cấm kỵ, chớ nói tới biếm họa.

Nhưng ở phương Tây, tự do báo chí, tự do diễn đạt là một trong những giá trị cơ bản nhất của tự do, dân chủ.

Vào ngày 30.9.2005, các hậu duệ của Andersen đã tương lên mặt báo hình ảnh cụ Muhammad đội khăn hình trái bom (chắc ngụ ý cụ này là tổ sư của al-Qaeda – quả là báng bổ thánh thần!).

Phát tranh của Jyllands-Posten sau đó được một số tờ báo ở châu Âu hưởng ứng.

Người Hồi giáo, hẳn nhiên, coi chuyện này là một sự phỉ báng đối với họ.

Thế là bạo động, biểu tình phản đối nổ ra. Nhiều lời dọa giết cũng được đưa ra. Thậm chí có vài chục mạng người hóa thành tro bụi.

Cuộc sự xung đột giữa các nền văn minh hết sức khốc liệt.

Chính phủ Đan Mạch cũng bị vạ lây. Họ trở thành tâm điểm của những chỉ trích ngoại giao từ thế giới Hồi giáo. Thủ tướng Anders Fogh Rasmussen, nay đứng đầu NATO, hồi đó quả là đã chịu sức ép khủng khiếp từ các nước Hồi giáo, quân của Đan Mạch ở Afghanistan cũng trở thành mục tiêu truy sát ráo riết hơn.

Thế nhưng, ông vẫn từ chối gặp mặt các đại sứ Hồi giáo, viện dẫn quyền tự do ngôn luận.

Chính phủ của Rasmussen đã trả lời đề nghị gặp mặt của các đại sứ Hồi giáo bằng một lá thư, với lời lẽ nhã nhặn nhưng cương quyết: “Tự do diễn đạt có một biên độ rộng lớn và chính phủ Đan Mạch không thể can thiệp vào báo chí. Tuy nhiên, luật pháp Đan Mạch cấm các hành động hoặc phát biểu báng bổ hoặc kỳ thị. Phía cảm thấy mình bị xâm hại có thể đem vụ việc ra tòa, và chỉ có tòa án mới quyết định từng vụ việc cụ thể”.

Ông Rasmussen ngán thế giới Hồi giáo, nhưng sẽ là tự sát nếu ông, để làm vừa lòng những người áo dài khăn đóng cảm thấy mình bị xúc phạm, đưa ra lời phê bình chuyện đăng tranh biếm họa của Jyllands-Posten, Politiken hay bất cứ tờ báo nào khác. Một xã hội mà tự do ngôn luận đã ăn sâu vào máu thịt mỗi người như Đan Mạch sẽ không bao giờ chấp nhận vị thủ tướng của họ có hành động đi ngược lại tinh thần đó.

Giờ đây, Politiken đưa ra lời xin lỗi không phải họ cảm thấy mình đã làm sai quấy, mà chỉ là tinh thần dĩ hòa vi quý, vì phép lịch sự thôi.

Thế nhưng, ngay cả lời xin lỗi cho êm chuyện ấy của Politiken cũng không xong với dân Tây.

Joern Mikkelse, Tổng biên tập tờ báo đầu têu Jyllands-Posten, châm chọc: “Cú nằm sóng soài lâm ly bi đát của Politiken trước mặt một gã luật sư Ả Rập đáng được thưởng giải nhất về sự ngu dốt”.

Bản thân họa sĩ Kurt Westergaard, người từng nhiều lần bị dọa giết (chỉ thiếu việc một nhà nước Hồi giáo nào đó tuyên án tử hình kiểu như Salman Rushdie), cũng phiền lòng về cú ủy mị của Politiken: “Tôi e rằng đây là một bước lùi của tự do ngôn luận”.
Kurt Westergaard Sept 2006
“Tôi e rằng đây là một bước lùi của tự do ngôn luận”

Hiệp hội Nhà báo Đan Mạch thì gọi hành động của Politiken là “quỳ gối trước những kẻ thù của tự do báo chí”.

23.2.10

Quan chức Mỹ lãng phí tài nguyên!!


Open quoteI'm living proof that you can survive without sex for that long.Close quote
* JIM GIBBONS - Nevada governor, in a disposition in a sexual-harassment case, saying he hadn't been intimate with his wife or any other woman since 1995; the statement was made under oath
-------------

"Tôi là một bằng chứng sống cho việc bạn có thể sống khỏe mà không cần làm tình trong chừng ấy thời gian."

Ông Jim Gibbons, thống đốc tiểu bang Nevada của Mỹ, khi đề cập tới một vụ quấy rối tình dục, đã nói rằng ông không hề làm tình với vợ hoặc bất cứ người phụ nữ nào khác từ năm 1995 tới nay. Phát biểu có thề thốt.

Nguồn: Times

Lời bình:
Ông Mỹ Gibbons năm nay 65 tuổi, đã chỉ sử dụng cái ấy để đi đái từ năm 1995 - tức lúc mới 50 tuổi. Đó là một sự phí phạm nghiêm trọng.
Đành rằng ở độ tuổi 50-70, xăng nhớt của ông đã có phần cạn (nghe đâu sau 30 tuổi thì cứ 10 năm xăng nhớt sẽ vơi bớt 10%), nhưng ít nhất dăm bữa nửa tháng cậu nhỏ cũng thượng lên vài lần, đằng này ngủ vùi cùng dĩ vãng như thế thì... ôi thôi.
Cũng có thể ông Gibbons bị yếu chim.
Không hiểu sao dân Mỹ lại bầu một người lười vận động, thậm chí yếu chim như ông lên làm lãnh đạo, lại đứng đầu cái tiểu bang có thành phố ăn chơi Las Vegas nữa chứ!

22.2.10

Nelson Mandela



Khi Nelson Mandela bước qua cánh cổng nhà tù Victor Verster cũng là lúc đất nước Nam Phi bắt đầu một cuộc đổi thay kỳ vĩ.

Cái nắng nóng 40 độ C ở Kaarl hôm đó - cái ngày 11.2.1990 không thể nào quên - đã không cản bước được những con người yêu tự do kéo đến vây quanh khu trại giam Victor Verster, mà ngày nay đã được đổi tên thành Trung tâm Cải tạo Drakenstein.

Trước đấy không lâu, vị tổng thống da trắng Frederik de Klerk thông báo sẽ trả tự do cho Nelson Mandela, người đã ngồi tù suốt 27 năm vì tội “lên kế hoạch phá hoại nhà nước”. Người dân Nam Phi từ khắp nơi đổ về quanh khu trại giam để chào đón người anh hùng của họ, người đã bước vào nhà tù với một phong thái hiên ngang từ nhiều năm trước.

Trong đám đông đổ về khu Victor Verster, có những người chào đời sau khi Mandela vào tù, có những người đã quên hẳn ngoại hình của Mandela, do việc sử dụng hình ảnh của ông bị cấm dưới thời Apartheid. Nhưng tất cả đều đến đây, đơn giản ông là niềm tự hào, niềm hy vọng, là tương lai của họ, của đất nước Nam Phi bị chia rẽ sâu sắc này.

Cũng trong đám đông ấy, có những người chờ đợi giây phút Mandela được trả tự do với một tâm trạng lo âu, thậm chí hoảng sợ.

“Ai cũng muốn biết người đàn ông này sẽ làm gì một khi được tự do. Có người nói rằng chiến tranh sẽ nổ ra, có người lo sợ dân da trắng sẽ bị đuổi khỏi đất nước Nam Phi…”, Kevan Heesom, hồi đó là một cậu bé trong một gia đình người Anh, bồi hồi kể lại.

Nỗi lo lắng của những người như Heesom là có thể hiểu được. Mandela từng là một nhà đấu tranh bất bạo động. Nhưng rồi, ông và các đồng chí của mình đã sử dụng vũ lực để chống lại chế độ Apartheid vốn áp đặt một chính sách kỳ thị hà khắc lên người da đen. Mandela đã bị người da trắng đại diện cho chế độ Apartheid bỏ tù. Giờ đây, khi được trả tự do, có thể ông sẽ báo thù.

Cái lối tư duy này thậm chí đã đẩy không ít người vào quyết định rời khỏi Nam Phi. “Tôi đã tự nhủ rằng mình phải rời khỏi nơi đây vì đất nước này sắp rơi xuống vũng lầy rồi”, Charles Brown, giờ đã là một công dân Úc, kể.

Và rồi, giây phút mà người ta chờ đợi đã đến. Đó là vào lúc 16 giờ 14 ngày 11.2.1990. Từ sau cánh cổng nhà tù Victor Verster, Nelson Mandela bước ra. Ông giơ nắm tay đầy cương quyết, rồi vẫy chào đám đông với một nụ cười rạng rỡ.

Những người chào đón ông có thể đọc thấy tất cả các thông điệp mà họ chờ đợi trong nụ cười ấy.

Nụ cười không chứa đựng hận thù.

Nụ cười của cuộc đấu tranh vì tự do vẫn tiếp diễn.

Nụ cười của niềm tin mãnh liệt vào một tương lai, nơi mà dân tộc Nam Phi hòa chung một khối, bỏ quá khứ Apartheid đen tối lại phía sau.

Đám đông cuộn chảy hét vang: “Madiba muôn năm!”, “Madiba vĩ đại!”.

Madiba là tên gọi tôn vinh Mandela.

Sau những bước chân tự do đầu tiên, người anh hùng Mandela đã du hành về thành phố Cape Town cách đó chừng 60 km. Ngay trong buổi tối 11.2 đó, cựu tù nhân Mandela đã đứng trước biển người, nói những lời cương quyết:

“Cuộc đấu tranh của chúng ta đã bước vào khoảnh khắc quyết định. Hành trình đến với tự do của chúng ta là không thể đảo ngược. Đây là lúc cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên tất cả các mặt trận. Cho phép mình ngơi nghỉ lúc này là một sai lầm mà các thế hệ tương lai sẽ không thể nào tha thứ cho chúng ta”.

Và ông đã cùng nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh, nhưng không phải bằng con đường bạo lực đẫm máu, để đưa đất nước tươi đẹp này thoát khỏi đêm trường Apartheid.

Để có được ngày tự do, Nelson Mandela đã trải qua những tháng ngày dài đằng đẳng trong chốn lao tù. Đó là 27 năm, thời gian đủ để một người chào đời sống cho tới lúc trưởng thành.

Quãng thời gian trong tù thực sự là một đêm trường, nhưng cũng từ đêm đen ấy, một ngày mới tươi sáng đã đến với dân tộc Nam Phi.

Bắt đầu vào thập niên 1940, khi chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid manh nha tại Nam Phi, chàng trai Nelson Mandela đã chọn cho mình chỗ đứng về phía những người bị áp bức, kỳ thị. Ông và một người đồng chí đã thành lập hãng luật để bảo vệ quyền lợi cho người nghèo cũng như tham gia các hoạt động đối kháng ôn hòa.

Trong giai đoạn đầu, Mandela chịu ảnh hưởng đường lối đấu tranh bất bạo động của Mahatma Gandhi.

Nhưng biện pháp bất bạo động này vẫn là một điều cấm kỵ của chính quyền Apartheid. Năm 1956, Mandela và 150 người khác bị bắt với cáo buộc phản quốc. Phiên tòa kéo dài sau đó kết thúc với việc các bị cáo được tuyên trắng án vào năm 1961.

Khi con đường đấu tranh bất bạo động bị ngăn cấm, Mandela đã dùng vũ lực để xóa bỏ chế độ Apartheid. Cuộc đấu tranh vũ trang cùng với việc tham gia đảng Đại hội Dân tộc châu Phi vốn bị chính quyền cấm cản đã khiến Mandela trở thành đối tượng bị truy đuổi của cảnh sát.

Tháng 8.1962, với sự giúp sức của tình báo Mỹ, chính quyền Nam Phi đã bắt giữ Mandela cùng nhiều đồng chí của ông.

Lại thêm một phiên tòa dài nữa.

Lại thêm những bản án “phá hoại chính quyền” và “phản quốc” nữa.

Cuối cùng, vào ngày 12.6.1964, Tòa án Tối cao Pretoria của chính quyền Apartheid đã tuyên án chung thân đối với Mandela về tội “lên kế hoạch phá hoại nhà nước” cùng một số tội danh khác.

Trước tòa, Mandela, lúc này 46 tuổi, đã thừa nhận hành vi của mình bằng một niềm tin không gì lay chuyển:

“Tôi không phủ nhận rằng tôi đã lên kế hoạch phá hoại. Tôi làm điều đó không phải vì sự khinh suất hay vì sở thích bạo lực. Tôi đã lên kế hoạch này theo sau những đánh giá nghiêm túc và bình tĩnh về tình hình chính trị nảy sinh sau nhiều năm nhân dân chúng tôi bị người da trắng bóc lột, áp bức dưới chế độ chuyên quyền”.

Và Mandela cùng những người bị kết án đã bước lên xe cảnh sát với nụ cười trên môi trước sự cổ vũ của đám đông ủng hộ vây quanh trụ sở tòa án.

Phần lớn thời gian ở tù, Mandela bị nhốt trong một xà lim bé nhỏ ở đảo Robben.

Trong hoàn cảnh ngục tù đằng đẳng, ông vẫn luôn giữ được khí tiết của một chiến sĩ dám dấn thân vì đại nghĩa. Mandela từng nhiều lần từ chối các điều kiện trả tự do của nhà cầm quyền. Chính vì vậy mà uy tín của ông ngày một lớn trong lòng người dân Nam Phi, bất chấp chính quyền Apartheid đã sử dụng mọi biện pháp để ngăn cấm việc truyền bá hình ảnh, tài liệu về ông.

Rốt cuộc, bản án khắc nghiệt của nhà cầm quyền nhằm triệt tiêu ý chí chiến đấu của ông, cũng là của người dân Nam Phi bị áp bức, đã trở nên vô hiệu.

Sau những cởi mở dè dặt cuối thập niên 1980, vị tổng thống da trắng mới lên cầm quyền Frederik de Klerk đã đi xa hơn trên con đường xóa sổ chế độ Apartheid khi bãi bỏ nhiều đạo luật kỳ thị. Hàng loạt đảng phái chính trị từng bị cấm đoán được phép hoạt động.

Cuối cùng, vào tháng 2 cách đây 20 năm, ông Klerk tuyên bố trả tự do cho Mandela, người sẽ đi vào lịch sử nhân loại như một nhà đấu tranh kiệt xuất cho tự do, hòa giải và tha thứ.

Sau khi rời nhà tù Victor Verster và sau những lời đanh thép ở Cape Town, Mandela tiếp tục cuộc đấu tranh của mình, đó là cuộc đấu tranh bất bạo động để hòa giải những ân oán của quá khứ cũng như phá bỏ mọi thành lũy của chế độ Apartheid.

Rốt cuộc, chế độ Apartheid bị bãi bỏ.

Mandela trở thành tổng thống Nam Phi vào năm 1994 sau một cuộc bầu cử. Đó là cuộc bầu cử đầu tiên tại đất nước này với đầy đủ ý nghĩa dân chủ thực sự. Nelson Mandela, dù đã cùng đám đông hô vang “Chính quyền thuộc về chúng ta” khi ở Cape Town trong buổi tối tự do đầu tiên sau 27 năm tù đày, đã chọn cách bước lên nắm chính quyền bằng việc tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc của một nền chính trị dân chủ lành mạnh.

Ông cũng chỉ làm tổng trong một giai đoạn ngắn - từ 1994 đến 1999 – sau đó rời chính trường và trao quyền chọn người kế nhiệm vào tay cử tri Nam Phi.

Mandela vĩ đại không chỉ bởi quá trình đấu tranh, những năm tháng bất khuất trong chốn lao tù, không chỉ bởi hành trình xóa bỏ chế độ Apartheid hay nỗ lực hòa giải dân tộc.

Ông bất tử bởi đã xây dựng nền móng vững chắc cho nền dân chủ ở Nam Phi.

Công lao xóa bỏ chế độ Apartheid của ông sẽ trở nên vô nghĩa nếu rốt cuộc ông không xây dựng được một nền dân chủ lành mạnh cho đất nước này, nếu ông thay nền chính trị ác quỷ Apartheid bằng một nền chính trị chuyên quyền của chính ông.

Thế mới hiểu vì sao Mandela thường phê phán Robert Mugabe, người cũng từng có cuộc đấu tranh giải phóng dân da đen vĩ đại không kém Mandela.

19.2.10

Vĩnh biệt!




R.I.P, my children's beloved maternal grandfather!

15.2.10

Giật mình!

Cảm hứng của bác nhà văn lớn này thật đáng giật mình!

3.2.10

Bộ trưởng ơi, mần đi chứ!


"Ngày 1.1, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc xác nhận một câu chuyện làm dư luận bất ngờ. Đó là chuyện một buổi sáng gần đây, trên đường đi làm, xe của ông (biển số xanh) đã bị một chiếc xe có biển số tư nhân chạy phía sau đâm vào, làm hư hỏng nhẹ. Lỗi thuộc về người lái chiếc xe phía sau rất rõ ràng. Nhưng bất ngờ chủ nhân chiếc xe vi phạm (là một sĩ quan công an Hà Nội) đã gây gổ và bạt tai người lái xe của bộ trưởng. Bộ trưởng Nguyễn Xuân Phúc không có ý tố giác người sĩ quan công an kia vì ông nói rằng “đối với tôi không nặng nề lắm nhưng cảnh sát, công an mà cư xử với người dân như vậy thì không thể chấp nhận được". Từ đó bộ trưởng liên hệ để ủng hộ việc tiếp tục nghiên cứu tăng nặng mức phạt vi phạm luật giao thông ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM."

Ông Phúc "Quảng Nôm" tỏ ra rất vô tư lự về chuyện này. Có vẻ như ông muốn nhấn mạnh chất quân tử, cao thượng, không màng "ba cái chuyện nhỏ nhặt".
Một quan chức cấp cao là một trang quân tử. Đó là điều rất tốt.
Nhưng sẽ tốt hơn nếu ông Phúc viết đơn kiện cái viên cảnh sát quen thói lộng quyền kia, kiện theo đúng các thủ tục của một công dân kiện một công dân (hoặc một quan chức).
Ông Phúc là người bị hại; việc tài xế ông bị đánh, xe ông (tài sản nhà nước giao ông quản lý) bị ủi móp đít có nghĩa là ông bị tổn thất về kinh tế, về danh dự, sức khỏe...
Một công dân khi (hoặc cho rằng mình) bị ai đó hại thì viết đơn kiện lên các cấp có thẩm quyền đề nghị giải quyết vụ việc theo đúng pháp luật là hành vi văn minh trong một xã hội văn minh, pháp trị.
Tôi nghĩ, trong vụ này, nếu ông Phúc làm đơn thưa kiện và mần tới sẽ hay hơn là nói "đối với tôi không nặng nề lắm" và không tố giác; sẽ hay hơn việc ông sai thuộc cấp làm vài cuộc điện thoại trách anh A, anh B là "răng để lính nó hỗn rứa?", hoặc tận dụng một cuộc họp nào đó, tận dụng báo chí để chỉ đạo xử lý này nọ.
Một xã hội lành mạnh phải là một xã hội mà quan chức biết coi mình như công dân bình thường, trong đó có chuyện biết thưa kiện theo đúng pháp luật khi thấy mình bị hại.
Vụ hành hung trên là một cơ hội để ông Phúc nêu gương "sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật".
Tiếc là ông chưa muốn (hay chưa quen) tận dụng!

1.2.10

Bản án chế độ...


Thấy trên Talawas có trích lời của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh:
  • Hãy đọc tờ La Dépêche Coloniale, tờ báo giữ giải vô địch về chủ nghĩa bài An Nam: "Tòa án Pháp vừa tuyên án xong. Một nửa can phạm được tha bổng, còn một nửa được kết án nhẹ. Những người bị án là những nhà nho can tội làm thơ cảm hứng lăng nhăng để ca tụng ân huệ của tự do."

    Các bạn thấy không, đối với người An Nam, ca tụng tự do là một tội nặng, chỉ vì thế thôi, người ta cũng phết cho họ 5 năm tù!

Nguyễn Ái Quốc, "Bản án chế độ thực dân Pháp", chương VIII

Đấy là Bác đang lên án chế độ thực dân.