(Hôm nay 1.3 âm lịch, cũng là ngày khai trương mùa Giỗ Tổ, tôi xin tái bản truyện Kỳ Ngộ Núi Hùng - đã xuất bản trên blog cá nhân 2 năm về trước - với một số chỉnh lý, bổ sung)
---------------
Sau một hồi chen lấn xô đẩy trước cổng đền Hùng, tôi bị đá văng xuống chân núi. Quả là đi giỗ Quốc Tổ mà chẳng khác nào đi mua vé tàu hỏa ở ga Sài Gòn vào mỗi dịp Tết Nguyên đán. Cứ gọi là chen lấn đến lòi cả ruột ra.
Nhưng trong cái rủi có cái may. Các cụ nhà ta nói cấm có sai. Nhờ bị đá xuống chân núi tôi mới thoát khỏi đám đông nhốn nháo trên kia. Sau một hồi xoa bóp cho vết thâm trên người đỡ đau nhức, tôi lồm cồm đứng dậy, lòng nhủ thầm: Quan trọng là giữ lấy mạng sống, có sống thì mới thắp nhang cho Quốc Tổ được, không thắp bây giờ thì ngày mai, vội gì!
Nghĩ thế, lòng chợt thấy vui vui, tôi nhẹ nhàng rảo bước dưới những tán cây xanh mướt, nghe tiếng lá mục rên lên khe khẽ dưới chân mình.
Và bất chợt hát lên.
Ngàn năm như mới hôm qua
Cảnh xưa còn đó người đà chốn nao
Non dài rừng thẳm trời cao
Sơn hà một dải lòng bao tâm tình
Lời hát như từ đâu bay tới đậu vào miệng tôi, lạ mà quen, quen đến lạ. Khi tôi vừa dứt lời, bỗng từ trong rừng sâu vẳng ra một tràng cười. Tiếng cười xa xăm như từ bốn ngàn năm trước vọng về.
Xa xăm nhưng rất gần. Và rất thật.
Rồi tiếng cười kéo bước chân, tôi hấp tấp chạy vào rừng. Lá mục dưới chân kêu lên, nghe như âm thanh cười đùa của những Lang Liêu, Mệ Nàng từ ngàn năm trước trong các buổi dạ hội trống đồng.
Đang hớt hải chạy, người tôi bỗng nhẹ hẫng. Có một sức mạnh nào đó nhấc tôi bay vút lên đỉnh núi Hùng, vút lên những tầng cây xanh mướt. Trong chốc lát, tôi thấy mình đã ngồi trên tán lá xanh um của một tàng cổ thụ. Tôi định thần nhìn quanh, thấy trên tán cây phía trước một ánh hào quang lấp lánh. Tôi dụi mắt để nhìn cho rõ. Giữa ánh hào quang rực rỡ ấy, một cụ già râu tóc bạc phơ hiện lên. Cụ già cười, hiền từ như ông Bụt trong truyện Tấm Cám. Tôi hoang mang, vừa mừng vừa sợ. Bụt chăng? Nếu thật là Bụt thì mình sẽ ước gì nhỉ? Trúng số? Nhà Phú Mỹ Hưng? Xe Captiva? Hay là hoa hậu Phương Thúy? Xin lỗi cô Thúy nhé, chả là trong truyện cổ tích, các chàng hoàng tử, những gã tiều phu thường ước được lấy công chúa, mà thời nay không có công chúa nên tôi phải ước hoa hậu vậy.
Trong lúc cái đầu của tôi đang xử lý hàng triệu điều ước thì cụ già trước mặt lại cười, vẫn nụ cười hiền từ như ông Bụt, nhưng lời nói sau đó thì chẳng khác gì gáo nước lạnh dội vào tôi:
- Hic, ta không phải Bụt đâu.
Tôi hoảng hồn, ông ta đọc được ý nghĩ của mình cơ đấy! Thế thì chết thật, ngượng quá đi mất. Nhưng tôi trấn tĩnh rất nhanh, một tay dụi mắt, tay kia xoa đầu, còn miệng thì ấm ớ:
- Thưa, cụ không phải... là Bụt. Vậy... cụ là ai ạ?
- Ta là Lạc Văn Hùng.
- Lạc Văn Hùng ư? Con... chưa hề nghe tên này bao giờ.
- Hic, chưa nghe đến thì hôm nay ngươi tới đây làm gì? Ta là Vua Hùng, là Hùng Vương, là Lạc Văn Hùng. Ta là Quốc Tổ của ngươi đây.
- Ối, Quốc Tổ, Vua Hùng, Hùng Vương, Người... có thật à?
- Hic, ngươi hỏi gì kỳ thế? Sao ta không có thật được. Không có thật sao nhân dân lại xây đền đài khắp nơi?! Đại Việt Sử Ký Toàn Thư còn chép rành rành đó. Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca còn chép rành rành đó...
- Xin Quốc Tổ xá tội, chả là hiện nay người ta, cái đám tốn vải dài lưng ấy mà, đang cãi nhau dữ dội lắm, một phe nói ngài có thật, phe kia nói ngài không có thật. Đang bất phân thắng phụ đó.
- Hic, chuyện này ta biết. Nhưng thời nào mà chẳng có cãi nhau. Không cãi nhau chí chóe thì không phải con cháu Vua Hùng.
- Thế cơ ạ, thời Quốc Tổ cũng có cãi nhau à?
- Hic, có chứ. Cha mẹ ta cãi nhau nên người phải dẫn con lên rừng, người phải dẫn con xuống biển. Con cháu ta cũng cãi nhau. Không những cãi nhau mà chúng còn đánh nhau chí tử. Ngươi còn nhớ Sơn Tinh với lại Thủy Tinh chứ? Hai gã trai đó đã cãi nhau rồi đánh nhau chỉ vì một ả đàn bà. Ta phải đứng ra phân xử nhưng cũng chẳng yên.
- À, con nhớ rồi. Nhưng nhắc đến vụ đó con thấy Quốc Tổ... thế nào ấy.
- Hic, ngươi nói gì cơ? Thế nào là… thế nào?
- Quốc Tổ khai ân xá tội thì con mới nói.
- Được, ngươi nói đi, ta không trách đâu.
- Quốc Tổ ra điều kiện nào là voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, toàn sản vật trên rừng cả, vậy là có ý cho Sơn Tinh thắng rồi còn gì... Sao Quốc Tổ không đòi tôm hùm, đồi mồi, vây cá mập, mực ống, hải sâm...?
- Ơ, ngươi... ngươi... ngươi... nói đúng quá. Ta quả có bất cẩn. Thực ra cái này là do bọn cận thần tham mưu, chúng đã ký nháy rồi, ta chỉ có việc phê duyệt thôi. Nhưng ta là người đứng đầu, lỗi vẫn ở ta.
- Con cũng đoán thế. Theo suy đoán của con thì chắc các trợ lý của Người đã bị Sơn Tinh mua đứt hết rồi. Ngày nay người ta nói có tiền mua tiên cũng được, huống chi thời đó Sơn Tinh chỉ cần một công chúa thôi chứ chưa phải là nàng tiên. Với lại...
Tôi đang huyên thuyên, bất giác ngước lên thì bắt gặp khuôn mặt Quốc Tổ đầm đìa lệ. Sợ rằng những lời thô lậu của mình đã làm Người giận, tôi lạy như tế sao, đầu đập binh binh xuống cành cổ thụ.
- Lạy Quốc Tổ, con ăn phải gan hùm, mạo phạm đôi lời khiến Quốc Tổ mất vui, xin Người cứ trách phạt ạ.
- Hic, ta trách phạt ngươi làm gì. Ta chỉ trách mình và buồn cho mệnh nước thôi. Ngày trước ta không dạy dỗ đám hậu sinh đến nơi đến chốn, khiến về sau tất thảy hư đốn, rường cột nước nhà vì thế mà suy yếu, đất nước sau thời Hùng vương cường thịnh thì phải trải qua ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Ngày nay tuy gọi là thái bình, nhưng sự chia rẽ vẫn rất trầm trọng, nạn tham quan ô lại vẫn đầy, trong khi lũ giặc cướp phương bắc vẫn lăm le. Ta làm sao vui được...
Quốc Tổ nói, đoạn thở dài. Tiếng thở của Người như dẫn tôi trở về bốn ngàn năm trước, rồi đưa tôi trôi dọc theo dòng sông lịch sử nước Việt. Tôi nghe trong tiếng thở của Người có vó ngựa Triệu Đà nghiền nát thành Cổ Loa, có An Dương Vương trầm mình xuống bể. Trong tiếng thở có Bà Triệu cưỡi voi thét ba quân xông vào hàng ngũ giặc, có tiếng hô của các bô lão Diên Hồng, có áng Đại Cáo Bình Ngô của người anh hùng Nguyễn Trãi, có máu chảy đầu rơi của một thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, có bước chân của đoàn binh Tây Sơn trong cuộc bắc chinh thần tốc, có những đêm dài dưới gót giày Phú Lang Sa và những tháng năm tổ quốc oằn mình trong cuộc chiến Bắc – Nam, dưới làn bom Mỹ, có cả “tiếng súng đã vang trên vùng trời biên giới” và những tiếng khóc uất nghẹn giữa muôn trùng sóng nước Biển Đông.
Dọc chiều dài lịch sử, lớp lớp thế hệ con dân đất Việt vừa bước ra khỏi cuộc chiến này lại lâm vào cuộc chiến khác. Chiến tranh dường như là một định mệnh của dân tộc yêu chuộng hòa bình này. Nghĩ tới đây, tôi cũng thở dài.
- Thưa Quốc Tổ, con thấu hiểu nỗi lòng của Người. Nhưng biết làm sao được? Nước ta bé quá, lại nằm ngay dưới bụng gã khổng lồ Trung Quốc với hơn một tỉ dân. Nếu so ra thì ta chưa bằng một tỉnh của họ. Phận nước nhỏ biết làm sao bây giờ?
- Nguyên nhân khiến nước Việt nhỏ đi không nằm ở chỗ đất rộng hay hẹp, dân đông hay thưa mà nằm ngay ở những suy nghĩ nhược tiểu như ngươi. Ngày trước, nước Việt ta cũng chỉ bằng quận huyện của đế quốc Mông Nguyên, thế mà bao phen đánh cho chúng bạt vía kinh hồn, tháo chạy không còn mảnh giáp. Nếu ngày đó vua tôi nhà Trần cũng có lối suy nghĩ nhược tiểu như ngươi thì hẳn đã cúi đầu thuần phục giặc rồi. Ngươi hãy nhớ lấy điều này, dân tộc nào, nhân dân nào, đất nước nào cũng đều tiềm tàng trong mình sức mạnh của nhà vô địch. Đó chính là nội lực vậy. Tập hợp tất cả nội lực đó, cùng hướng chúng về một phía sẽ tạo ra sức mạnh vô song. Nội lực khi đó sẽ là Phù Đổng Thiên Vương. Còn nếu để cho tiềm lực phân tán, thậm chí đối chọi lẫn nhau, khi đó tự dân tộc sẽ hủy diệt chính mình mà chẳng cần một kẻ giặc ngoại xâm nào cả. Trong lịch sử, mỗi khi sự phân tán trong nước xảy ra, cũng là lúc lũ giặc ngoại xâm ập tới. Việc dồn tất cả nội lực về một hướng hay để chúng phân tán riêng lẻ, đối chọi lẫn nhau, đó là việc của kẻ làm vua. Ngày trước, nhờ hợp được nội lực, hợp được lòng dân, vua tôi nhà Trần mới thắng được đế quốc Mông Nguyên hùng mạnh. Ngày nay, tuy gọi là thái bình, nhưng ta thấy lòng dân còn phân tán, đó chính là mối lo và trách nhiệm của kẻ làm vua.
- Thưa Quốc Tổ, Người nói… cũng đúng. Nhưng đâu phải thời đại nào cũng có những vị vua anh minh, biết huy động sức dân qua hội nghị Diên Hồng? Tóm lại là việc người dân có được một vị vua tốt chẳng qua là hên xui thôi.
- Cái gì gọi là hên xui ở đây? Người từng nghe câu “nhân dân nào, vua chúa ấy” chưa?
- Dạ thưa…, nghĩa là sao ạ?
- Nghĩa là nhân dân tạo ra vua và cũng có thể phế truất vua. Còn vua thì phải phục vụ nhân dân. Nếu làm trái điều này, vua sẽ bị chính nhân dân lật đổ, không bằng khởi nghĩa bạo lực thì cũng bằng sự bất tín nhiệm. Phế truất hôn quân là một bổn phận của nhân dân. Còn phó mặc đất nước cho hôn quân, nhân dân cũng có lỗi. Nhân dân không thể và không được phép thụ động trong chuyện này. Cái gì gọi là hên xui ở đây?!
- Nhân dân tạo ra vua và có thể lật đổ vua, con hiểu điều Người nói. Nhưng mà, nhiều lúc nhân dân trở nên liệt kháng vì chính sách ngu dân, đè nén của vua chúa trong một thời gian dài. Thưa Quốc Tổ, có những thời, ngay cả thở cũng không được thoải mái nói gì tới chuyện phản kháng?
- Hừm, lịch sử có những minh quân và có những hôn quân. Thời của ta, tuy còn là nhà nước sơ khai nhưng cũng truyền được tới mười tám đời, đó là nhờ các vua trên thì không làm trái đạo trời, dưới thì tôn trọng ý dân. Cũng có thể gọi đó là thời hoàng kim vậy. Về sau này có những triều đại trường tồn, nhưng cũng có triều đại sớm bị diệt vong. Ngay cả đế quốc La Mã hùng mạnh rốt cuộc cũng tan như khói bụi trong cơn lốc thời gian, sau thời cai trị độc đoán của Nero bạo chúa. Lịch sử đã cho thấy những vị vua, những chính thể không hợp lòng dân sẽ sớm đi đến chỗ tiêu vong. Đi ngược lại ý dân, chính là lúc nhà vua tự sát vậy.
- Hic, Quốc Tổ dạy chí phải. Nhưng sao mỗi lần đất nước có một vị hôn quân ra đời, Người lại không xuất hiện để bảo ban họ, hay chỉ đường dẫn lối cho người dân? Bởi đó cũng là việc làm tạo phúc cho muôn dân vậy. Người nói với một tên dân đen như con thì ích gì.
- Hic, đất nước có hôn quân hay minh quân, đó là việc của lịch sử. Ta chẳng qua cũng chỉ là một trong hàng trăm vị vua của nước Việt này, sao có thể làm thay vai trò của lịch sử? Ta chỉ có thể quan sát lịch sử và thở dài thôi. Hôm nay ta gặp ngươi nơi đây và thổ lộ bấy nhiêu tâm sự cũng là do duyên trời.
Quốc Tổ nói, giọng trầm mặc. Đúng là lời của một người đã có bốn ngàn năm chiêm nghiệm chuyện thế thái nhân tình. Còn tôi thì há hốc miệng như muốn nuốt lấy từng câu chữ của Người, dù biết với sự ấu trĩ của một kẻ hậu sinh, tôi có lẽ chỉ hiểu được một phần nhỏ nhoi những tâm sự đó.
Mặt trời lúc này đã lăn dần xuống phía tây, sắp khuất sau những tàng cổ thụ trên dãy núi Hùng. Tôi ngước nhìn Quốc Tổ, thấy từng sợi râu của Người long lanh trong nắng. Người ngồi đó, uy nghi mà gần gũi. Người vừa là vị vua của bốn ngàn năm trước, vừa là ông Bụt hiền lành từ trong truyện cổ tích bước ra, vừa là một người bạn tâm tình. Của tôi. Bất giác tôi hỏi:
- Thưa Quốc Tổ, năm nào Người cũng về ăn giỗ chứ?
- Hic, ngươi hỏi tếu thật. Bốn ngàn năm qua ngày nào mà ta chẳng dõi theo sự thăng trầm của đất nước. Những lễ lược hướng về cội nguồn như thế này cũng là một dịp để ta có thể thấy được hiện trạng của dân tộc.
- Thế năm nay ngài thấy giỗ chạp thế nào?
- Cũng như năm ngoái thôi. Người kéo về đông nghịt. Bánh chưng, bánh dày chất cao như núi. Lễ lược quả là nhộn nhịp. Nhưng tiếc là phần hồn của ngày Giỗ Tổ chỉ chiếm một góc khiêm tốn. Có người tới đây để giỗ ta, để tôn vinh ta, cũng có người tới đây để giỗ họ, để tôn vinh chính họ. Sự thành tâm, thành kính, lòng hướng về nguồn cội mà ta và ngươi nhìn thấy qua dáng vẻ xì xụp lạy tạ, qua rợp trời cờ hoa đôi lúc không hẳn xuất phát từ đáy lòng. Đó cũng là những biểu hiện mà qua đó ta có thể thấu được hiện trạng của dân tộc vậy.
- Quốc Tổ hơi đa nghi. Con cháu thành tâm với Người thế mà Người lại... À, bánh chưng, bánh dày Người ăn có vừa miệng không? Năm nay nghe nói người ta làm bánh to lắm.
- Ta chịu cái khẩu vị thời nay. Người ta bỏ chất bảo quản, độn xốp vào bánh để làm gì không biết. Có lẽ sau bốn ngàn năm tiến hóa, ẩm thực của người Việt đã thay đổi chăng? Trong bốn ngàn năm qua, ta luôn cập nhật não bộ của mình. Ngươi thấy ta biết nói cả ngôn ngữ của tuổi “tin”, của thời đại a còng đấy. Nhưng riêng khâu ẩm thực thì chịu. Ta không theo kịp sự thay đổi này nên đành nhịn đói…
- Vâng, hàn the, phoọc môn, xốp, phẩm màu..., đó là những thành tựu khoa học vĩ đại của ngành công nghiệp thực phẩm đấy ạ. À, Người nói tới ngôn ngữ tuổi “tin” con mới nhớ. Té ra Người đã cập nhật khá nhiều từ vựng. Hèn gì Người cứ hic hic như mấy cô cậu choai choai ấy. Con nghe mới gần gũi làm sao.
- Ta phải cập nhật thì nói chuyện ngươi mới hiểu. Còn nói tiếng Việt thời Hùng Vương thì làm sao ngươi hiểu nổi.
Lời Quốc Tổ gợi ý cho tôi một đề tài vô cùng thú vị. Chả là hiện nay người ta đang cãi nhau chí chóe về tiếng Việt thời Hùng Vương, nhất là chữ viết ấy. Người nói có chữ viết, người nói không. Tôi quả là đang nắm trong tay cơ hội bằng vàng. Có Vua Hùng ở đây tôi sẽ biết được điều đó.
Ngay ngày mai thôi tôi sẽ biến mấy gã giáo sư, viện sĩ thành một lũ hề. Rồi mai đây tôi sẽ trở thành sử gia vĩ đại. Ôi!!!
Giữa lúc cảm xúc đang dâng trào mãnh liệt thì tôi thoảng nghe trong gió tiếng cười của Quốc Tổ. Vẫn là tiếng cười hiền lành như ông Bụt. Vừa gần lại vừa xa. Khi tiếng cười vừa dứt, một giọng nói vang lên:
- Bla bli blây…!!!!!
Tiếng nói nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan vào không gian. Tôi hấp tấp ngước lên, chỉ kịp nhìn thấy một vệt sáng từ chỗ Quốc Tổ ngồi ban nãy bay vút về phía Đền Hùng.
Đỉnh núi Hùng trong phút chốc chìm vào im lặng. Bóng tối bủa vây xung quanh. Tôi hoảng hồn. Thì ra trong lúc vội vã ra đi, Quốc Tổ đã quên mang tôi xuống mặt đất. Thế là tiêu rồi. Một mình trên ngọn đại thụ cao mấy chục thước trong đêm tối như mực, làm sao bây giờ?
Trong lúc loay hoay, tôi trượt chân rơi xuống. Đầu óc quay cuồng hoảng loạn, tôi hét lên và láng máng nghe từ phía Đền Hùng tiếng hét của mình dội lại trước khi tan loãng vào bóng đêm.
great!
ReplyDeleteto be continued!
Truyện rất tuyệt. Xin phép anh, để em mang truyện này của anh đi 1 số nơi khác, tuyên truyền cho mấy đứa hậu sinh ấu trĩ hơn anh.
ReplyDeleteBác quá khen rồi. Kẻ hèn này không dám nhận đâu.
ReplyDeleteCòn chuyện bác "mang đi" thì cứ tự nhiên ạ.
em mượn mang về FB cho bà con đọc cho vui
ReplyDeletegiờ Việt nam làm gì còn cổ thụ. Lại bịa rồi
ReplyDelete