
Hôm nay mười chín tháng bảy. Ngày này cách đây nhiều năm, tôi chào đời. Tôi không còn nhớ rõ lúc đó là ngày hay đêm. Chỉ nhớ khi vừa chui ra tôi đã chạm vào một thứ ánh sáng mờ mờ. Có lẽ lúc đó là ban ngày nhưng do chỗ giường mạ nằm được che kín quá nên ánh sáng không thể len vào được. Ánh sáng không, nhưng gió nam thì vẫn chui vào. Trong lúc tôi đang ngơ ngác nhìn quanh thì một ngọn gió nam khô rát táp vào mặt. Ngọn gió này cùng khuôn mặt đen sì của mụ Duệ khiến tôi phát hoảng. Tôi rụt đầu vào nhưng không kịp nữa rồi. Hai bàn tay cứng như gọng kìm của mụ đỡ đẻ đã chụp lấy đầu tôi kéo tuột ra.
"Xong rồi, một thằng cu!", tiếng bà mụ loáng thoáng bên tai tôi.
Tôi cố vùng vẫy, dường như sắp ngộp thở. Có lẽ tôi sẽ chết trong chốc lát. Giữa lúc tôi đang vùng vẫy thì mụ Duệ lại dốc ngược tôi lên, thò ngón tay lạnh tanh vào họng móc một phát. Nước ối từ trong người tôi xối ra. Tôi khóc ré lên, bà mụ bảo: "Thằng ni to miệng, sau mần chức to đây". Tôi ré lên cãi lại.
Chợt có giọng nói nhừa nhựa: "Mụ Hường đẻ chui, đáng ra phải lập biên bản, nhưng nể gia đình có công với cách mạng, cho qua". Đó là tiếng mụ Hoa. Người đàn bà béo đẫy đà này làm ở trạm xá xã, chuyên đi lập biên bản phạt những ca đẻ chui. Mụ bước vô, cầm lấy chim tôi giật giật: "Con trai à, con trai à." Mụ Hoa là người đàn bà đầu tiên cầm chim tôi. Sau này lớn lên, chim tôi đã được chuyền qua tay nhiều phụ nữ khác nhau, nào là lũ con gái trong xóm, bọn bạn chung lớp, đến người yêu, rồi vợ tôi, cả mấy em ca ve Sài Gòn và mấy bà sồn sồn trong khu phố. Có người còn dùng răng cắn nhẹ vào chim tôi. Nhưng chuyện đó xảy ra trong những hoàn cảnh nghiêm trọng, lãng mạn và đầy cảm xúc hơn nhiều. Còn lúc đó, mụ Hoa đang dùng những ngón tay béo múp kẹp lấy chim tôi một cách tàn bạo. Tôi tức điên, ré lên, đoạn tia một dòng nước đái nóng hổi vào giữa hai khe vú mụ. Mụ giật nảy người, hét: "Đồ dâm dật, mới nứt mắt mà đã...". Đoạn tiện tay gắp cái nhau thai bỏ vào bao ni lông. Ở quê tôi, người ta hay lấy nhau thai luộc ăn. Nghe nói mụ Hoa cùng mấy người trên trạm xá nhờ ăn nhiều nhau mà ai nấy đều béo núc, khỏe mạnh. Khi mụ Hoa vừa khuất dạng, mụ Duệ đã rống lên: "Con mệ ni, muốn húp nác lồn thì nói thẳng ra cho rồi, biên bản với biên biếc".
Từ bên ngoài, có tiếng đàn ông vọng vào: "Con mệ ni, con cái người ta mới mở mắt đã chửi bậy rồi". Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe được tiếng ba. Tôi ngọ nguậy, cố xoay đầu nhìn qua khe màn. Thấy bên ngoài ba đang thắp hương lên bàn thờ Bác Hồ: "Ơn Đảng ơn Bác, con con khỏe mạnh". Rồi ông đứng lặng. Hồi đó ba mới ngoài bốn mươi, còn phong độ lắm chứ chưa thảm hại như bây giờ. Bắp tay bắp chân ông toàn gân là gân (thực ra đó là mạch máu bị phồng lên, sau này tôi mới biết đó là bệnh giãn tĩch mạch). Ba là người cộng sản chân chính. Ông vào Đảng khi chưa đầy hai mươi, lúc hòa bình lập lại. Là cộng sản nên ông vô thần. Nhưng ông mê tín ghê lắm. Ông tin Đảng, tin Bác Hồ vô điều kiện. Trong nhà luôn có bàn thờ Bác Hồ. Mỗi khi có chuyện gì ông lại thắp hương và "ơn Đảng, ơn Bác". Sau này lớn lên tôi mới hiểu đó là tôn giáo của ông.
Ba là một trong số ít người đàn ông vĩ đại mà tôi từng gặp. Nếu nhiều chữ, tôi có thể viết vài chục cuốn tiểu thuyết về ông. Tiếc rằng sau này chữ tôi chỉ đủ dùng để viết lóc liếc cho vui thôi. Ba tôi là người con thứ nhì của mệ tôi. Mệ tôi có mười ba đứa cả thảy, bác tôi, ba tôi và các cô chú tôi. Nhưng họ chết hết trước khi tôi chào đời, ba là người duy nhất sống sót. Kể từ năm sáu tám, năm Mậu Thân ấy, mệ tôi chỉ còn ba. Ba là người đảng viên hiếm hoi trong làng nên được làm chủ nhiệm hợp tác xã. Chủ nhiệm hồi đó chỉ đánh nhau, đưa bà con đi sơ tán chứ không có xe hơi như bây giờ. Nhưng ông được bà con trong xã tín nhiệm lắm. Có gì cũng gọi ông. Rồi hết đánh Mỹ thì ông được đi học trung cấp nông nghiệp. Sau vô phía nam tỉnh Quảng Trị làm cán bộ. Hồi đó hình như Triệu Phong với Hải Lăng nhập lại một thành Triệu Hải thì phải. Ông làm cách nhà khoảng bốn mươi cây số. Cứ đến chiều thứ bảy là ông đạp xe về nhà rồi khuya chủ nhật lại đạp xe vô để kịp đi làm vào sáng thứ hai. Hôm mạ đẻ tôi ông cũng từ trong Triệu Hải đạp xe ra.
Tôi còn nhớ chiếc xe đạp thống nhất của ba. Ông mua nó sau giải phóng. "Mua để kỷ niệm ngày thống nhất", ông nói thế. Rồi khi ông vào làm ở Triệu Hải thì nó trở thành con chiến mã của ông. Nó có cái ghi đông vòng vòng giống y chang vành móng ngựa. Rốt cuộc ông đã ngồi sau cái vành móng ngựa đó chừng mười lăm năm cho đến khi về hưu vào cuối thập niên tám mươi. Sau này lớn lên, có lần tôi chỉ cái ghi đông đùa: "Ba định hầu tòa đến khi mô?". Ông cười: "Tau phải đứng trước vành móng ngựa để chuộc tội. Khi mô hết tội thì thôi". Tôi hỏi: "Tội chi rứa ba?". Ông nói: "Tội của một con người. Tội của một người cha. Tội của một người chồng. Tội của một đảng viên. Tội của một cán bộ. Nhiều tội lắm". "Con cũng có tội hả ba?". "Có chứ, ngay khi vừa khóc chào đời thì con đã có tội. Là người thì ai cũng có tội lỗi cả". Tôi hỏi: "Thế Bác Hồ có tội không?". Ông trợn mắt: "Câm ngay! Bác Hồ làm sao có tội!". Tôi lấn tới: "Sao lại không có tội?". Ông lại rít lên: "Câm ngay!" Đó là lần duy nhất trong đời ba nổi giận trước mặt tôi. Không muốn làm ông giận, tôi thủ thỉ: "Bữa mô ba rửa sạch tội thì cho con kế thừa cái vành móng ngựa ni nghe". Ông im lặng.
Từ dưới bếp, mệ lom khom bưng chén nước cơm lên cho mạ uống. Nước cơm là phương thuốc thần kỳ ở quê tôi. Đau ốm cũng nước cơm. Trẻ con cũng nước cơm. Bà đẻ cũng nước cơm. Sau này có dịp ghé qua các bệnh viện phụ sản, thấy người ta cho bà đẻ uống sữa nóng ngay sau khi sinh, bảo để cho mau tỉnh. Té ra công nghệ này bắt nguồn từ truyền thống uống nước cơm quê tôi. Mệ nói: "Uống vào cho nó khỏe, mai còn ra đồng". Mệ tôi là một người phụ nữ vĩ đại như bao bà mẹ Việt Nam khác. Mệ sinh hồi đầu thế kỷ hai mươi. Đến năm hai ngàn lẻ bốn mới đây mệ chết ở tuổi chín sáu. Tôi thường nghĩ nếu sinh sớm hơn vài năm, mệ đã được ghi vào sử sách là người sống vắt ngang qua ba thế kỷ rồi. Tôi từng tiếc vì điều đó.
Tôi còn nhớ hồi mệ chết. Lúc tôi đang hát karaoke với đám bạn trên Lăng Cha Cả thì anh trai ở quê gọi điện vào nói mệ đang hấp hối, ra mau. Tôi bay ra đến Huế thì mệ chết. Mệ chờ tôi nhưng không còn hơi sức để chờ. Mệ như con suối vậy, đã dốc cạn dòng nước của mình trong một thế kỷ qua để nuôi con, thờ chồng, phụng sự tổ quốc. Cuối cùng, mệ ráng chờ tôi, nhưng dòng nước đã cạn. Người ta kể rằng trước khi chết, mệ nhìn lên một cái và thở dài. Có lẽ mệ nhớ tôi. Mà không chỉ có nhớ tôi. Mệ có nhiều thứ để nhớ lắm. Mệ là một cô gái quê mùa. Lớn lên thì lấy ông tôi, một người làm nghề thầy thuốc có tiếng trong vùng. Nhưng ông chết sớm. Năm bốn bảy, ông bị bệnh chết. Người ta nói ông chết vì tiếc của. Hồi đó do phải chạy Tây, ông đã đem chôn hết sách thuốc xuống dưới nền nhà. Sau trở về thì toàn bộ sách quý đã mục ra do lũ lụt. Ông tiếc ốm mà chết. Sau cái chết của ông, mệ tôi còn chịu đựng tới mười hai cái chết nữa, của bác tôi và các cô chú tôi. Bác tôi hi sinh trong đồn Tây. Mệ kể: "Hắn đặt thằng Kỵ nằm ngã trước cửa đồn rồi thay nhau đi lên trên bụng. Bọn Tây đứa mô đứa nấy to như thùng phi, dẫm lên bụng con người ta rứa răng sống nổi". Nó giết bác xong quăng mất xác. Sau này chú tôi hi sinh trong dịp Mậu Thân sáu tám ở Cửa Việt cũng không tìm thấy xác. Năm nào, dịp lễ tết nào mệ cũng khóc trù trù, nhà như có đám ma, mệ khóc rồi trách ba răng nhác đi tìm thằng Quyện, là chú tôi. Ba thì đã chạy khắp tỉnh để tìm rồi, nhưng tìm răng được. Hàng chục ngàn người chết, bom quật một cái là thịt xương nát ra như cám. Một hôm, ba trở về với một chiếc kèn đồng nho nhỏ, nói đây là của chú. Chú là lính kèn. Chú thông minh cực. Trước người ta kêu chú đi học tiếng Anh để phiên dịch tiếng bọn tù binh Mỹ, nhưng chú không chịu, muốn ra trận thôi. Rốt cuộc chú hi sinh, đến nay vẫn chưa tìm được xương cốt. Mộ chú và bác ở bên nghĩa trang liệt sĩ bây giờ là một nắm cây dâu làm xương với cái gáo dừa làm hộp sọ phía trên.
Mạ nằm liệt giường ba ngày thì tỉnh lại để cho tôi bú. Sau đó, đúng ba tháng mười ngày, mạ đi chợ bán phong long rồi ra đồng luôn. Còn tôi thì vẫn ở lại với cái không gian tù mù và chật chội nơi tôi chào đời. Dù sao thì lúc này không khí cũng khá hơn, tôi không còn phải chung sống với hơi nước xông và chậu than nóng nữa, tôi nghĩ thế. Nhưng thực tế không giống như tôi nghĩ. Mạ đi làm đến tối mịt mới về. Tôi khát sữa đến phát điên được, cứ khóc liên hồi. Mỗi lần tôi khóc mệ lại gí đầu vú vào miệng tôi. Tôi hấp tấp ngoạm lấy, nhưng một chốc lại nhả ra, lại khóc. Vú mệ chua loét mùi vị của người già. Không ngọt ngào như vú mẹ. Sau này lớn lên tôi mới biết rằng cũng là vú đàn bà nhưng có nhiều loại khác nhau. Vú người già có vị chua. Vú mẹ thì ngọt ngào nhờ dòng sữa trắng. Vú người yêu cũng ngọt ngào, dù không có sữa.
Mệ nói: "Con mạ mi sướng, nằm tới ba tháng hơn mới đi mần. Tau thì hôm trước đẻ hôm sau đã đi cấy". Mệ sống thời trước, khổ quen rồi nên sinh ra ham công tiếc việc. Mạ nằm ba tháng mười ngày với tôi mà không ngày nào yên với mệ. Mệ cứ đi ra đi vào chửi bới om sòm. Mạ không cãi, đôi lúc khóc rấm rứt. Còn tôi thì lâu lâu lại ré lên để phản đối mệ. Nhưng chẳng ăn thua. Mệ sống vào thời hiện đại, ngày đất nước bước vào cuộc sống mới mà hồn phách cứ như còn kẹt lại ở năm nảo năm nào. Sau này tôi mới biết mệ cũng như nhiều phụ nữ ở quê tôi lưng thường bị còng rất sớm, cỡ năm mươi tuổi là đã còng xuống rồi. Đó là do đi làm quá sớm sau khi đẻ con.
Quên mất, tôi còn có năm anh chị nữa. Hai chị đầu, đến một anh, lại đến hai chị. Tôi thứ sáu, là con út. Khỏi phải nói đám anh chị này cưng tôi biết chừng nào. Hằng ngày hễ đi đâu thì thôi, mỗi lần về nhà là chúng lại chui vào bế tôi, chuyền tay nhau như người ta chuyền bóng. Lại còn hôn hít nữa. Cái trò hôn hít này tính ra mỗi ngày tôi lãnh không dưới một trăm phát. Không chỉ có đám anh chị của tôi, hễ có ai vào thăm mạ là cứ đè tôi ra mà hôn. Có người hôn nhẹ nhàng, có người hôn tới tấp như ăn cướp, có người làm chảy cả nước dãi lên bụng tôi, có người quệt cả nước trầu vào dái tôi, có người cắn vào chim tôi. Với con nít, người ta gọi bóng bẩy là thơm. Thơm cái nỗi gì. Có khi thúi thấy mẹ, nếu người hôn là một lão già hoặc một con mẹ lười đánh răng. Nhiều lúc tôi phản ứng bằng những tràng đánh rắm út ít, lúc khác lại khóc ré lên, cũng có lúc cười thích chí, nếu người hôn là một cô gái nõn nà, nhưng rất hiếm. Sau này tôi mới biết người ta hôn tôi không phải vì thương tôi, cưng tôi. Họ làm điều đó chẳng qua vì nó mang lại khoái cảm cho chính họ. Thế nên từ khi tôi lên bốn năm tuổi trở về sau, khi da dẻ bắt đầu mốc meo và cơ thể bắt đầu khét lẹt, chẳng còn ai hôn tôi nữa. Lớn lên, đến tuổi biết xúc động khi thấy con gái tắm hoặc tè, tôi đã tìm cách hôn trộm vài người nhưng đều bị tát cho tóe đom đóm. Cuộc đời thật tàn bạo. Tôi chỉ được cưng chiều khi tôi mang lại một cái gì đó cho họ. Còn khi hết giá trị lợi dụng, tôi chỉ là đồ rác rưởi mà thôi. Tôi đã nhận ra điều đó, tiếc là hơi muộn.
Đã nhiều năm trôi qua và tôi đã quá già để nhớ rành rọt tất cả những gì đã xảy ra trong ngày ấy, ngày tôi chào đời. Nhưng có một điều tôi không thể quên, đó là cảm giác sợ hãi cuộc đời khi tôi vừa chui ra khỏi lòng mẹ. Lúc ấy tôi đã định rụt đầu vào để chạy trốn nó, nhưng không thể. Bàn tay tàn bạo của mụ Duệ đã lôi tôi ra rồi ném tôi vào cuộc đời tàn khốc này.
Giờ đây, sau nhiều năm trôi qua, tôi vẫn còn y nguyên cảm giác sợ hãi cuộc đời này.
Nhưng giờ thì tôi đã ở trong nó, tôi phải sống với nó thôi.
Vâng, tôi phải sống với nó. Không còn cách nào khác.