
Hoàn cảnh bất ổn
Trong khoảng 10 ngày trở lại đây, cùng với làn sóng biểu tình - bạo động tại thủ phủ Lhasa của Tây Tạng, rất nhiều cuộc biểu tình của người Tây Tạng lưu vong, của những người đồng cảm đã diễn ra khắp nơi, từ Đài Loan tới Nepal, từ Ấn Độ tới Úc, từ Anh tới Thụy Sĩ... Vấn đề Tây Tạng vì thế, dù muốn hay không muốn, cũng đã trở thành câu chuyện thời sự nóng hổi nhất.
Có nhiều nguyên nhân khiến làn sóng chống đối chính phủ Trung Quốc của người Tây Tạng nổ ra trong dịp này.
Thứ nhất, trong lúc Quốc hội Trung Quốc đang họp với nhiều chính sách mới về an ninh, quốc phòng, kinh tế, dân sinh được đưa ra bàn thảo, người Tây Tạng muốn nhân dịp này gửi một thông điệp tới nhà cầm quyền Bắc Kinh, rằng họ muốn tách ra khỏi Trung Quốc, hoặc ít ra cũng có một quyền tự trị thực thụ. Thứ hai, đây là dịp kỷ niệm 49 năm cuộc khởi nghĩa thất bại của người Tây Tạng chống lại chính phủ Trung Quốc. Sau sự kiện này, lãnh tụ tinh thần của người Tây Tạng là Dalai Lama 14 (Đạt Lai Lạt Ma 14 - Tenzin Gyatso) đã phải ra nước ngoài và lập chính phủ lưu vong ở thành phố Dharamsala, Ấn Độ. Thứ ba, Olympic 2008 sắp diễn ra tại Bắc Kinh, cả thế giới đang dồn sự chú ý về quốc gia đông dân nhất hành tinh, vì thế, những người ủng hộ độc lập cho Tây Tạng muốn nhân đó "hâm nóng" vấn đề này trong dư luận quốc tế, để từ đó lôi kéo sự ủng hộ, đồng cảm của nhiều người. Việc Kosovo đơn phương tuyên bố độc lập khỏi Serbia vừa qua cũng có thể đã tác động ít nhiều tới tâm lý ly khai của người Tây Tạng.
Lịch sử đau thương
Tây Tạng, một vùng đất rộng lớn nằm ở độ cao trên 4.500 m, xưa kia là một quốc gia độc lập, với Phật giáo rất thịnh. Các vương quốc của người Tây Tạng ngày xưa bao gồm vùng đất ngày nay là Khu tự trị Tây Tạng thuộc Trung Quốc và một phần Ấn Độ, Nepal, Bhutan. Các cuộc tranh giành quyền lực giữa các nhóm đối nghịch trong lòng Tây Tạng đã khiến vương quốc này bị suy yếu.
Đến đầu thế kỷ 13, đế quốc Mông Cổ bắt đầu xâm chiếm vùng "nóc nhà thế giới" và sau đó Hoàng đế Mông Cổ đã chia Tây Tạng ra nhiều phần để ban thưởng cho bà con thân thích. Sau Thành Cát Tư Hãn, đến thời Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên, về mặt lý thuyết thì Tây Tạng nằm dưới ách đô hộ của nhà Nguyên. Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý của mình (hiểm trở), vùng đất này vẫn là một quốc gia độc lập trên thực tế (de facto).
Tình hình trên kéo dài tới triều Thanh ở Trung Quốc. Lúc này, Tây Tạng được coi là một nước chư hầu của Đại Thanh và các vị Dalai Lama (nhà sư đứng đầu Tây Tạng) được nhà Thanh bảo hộ. Đến cuối thế kỷ 19, quân Anh từ Ấn Độ tràn lên kiếm chác ở Tây Tạng nhưng sau đó đã rút lui theo một hòa ước Anh - Tây Tạng, được ký trên cơ sở hòa ước Anh - Trung trước đó. Tiếp theo, nhà Thanh tới thiết lập quyền đô hộ trực tiếp tại Tây Tạng. Các cuộc khởi nghĩa của người Tây Tạng sau đó cùng với chiến tranh Trung - Nhật lần thứ nhất đã làm cho quân đội Trung Quốc xín vín.
Sau cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, quân du kích địa phương người Tây Tạng mở một cuộc tập kích bất ngờ vào đồn lính Trung Quốc, khiến quan chức Trung Quốc ở Lhasa buộc phải kí kết "Hiệp định 3 điểm" chấp nhận đầu hàng và rút đi lực lượng đóng tại miền trung Tây Tạng. Đầu năm 1913, vị Dalai Lama quay trở lại Lhasa và ra một bản tuyên cáo lên án "ý định xâm chiếm Tây Tạng làm thuộc địa dưới quan hệ nhà bảo trợ - thầy tu", và tuyên bố: "Chúng ta là một nước nhỏ, độc lập, phụng sự tôn giáo."
Cũng vào năm 1913, Tây Tạng và Mông Cổ ký kết một hiệp định công nhận độc lập lẫn nhau.
Nhưng sau đó, thực dân Anh, Trung Quốc đã dùng sức mạnh để chia cắt Tây Tạng. Một phần vùng đất này được tách ra và nhập vào Ấn Độ thuộc Anh, trong khi phần còn lại bị nhập vào Trung Quốc. Đây chính là bi kịch của nước nhỏ trong kỷ nguyên thực dân, khi mà luật pháp quốc tế chưa có.
Một giai đoạn dài dưới thời Trung Hoa Dân Quốc, Tây Tạng tồn tại như một quốc gia độc lập dù vẫn bị đặt dưới ách đô hộ của Trung Quốc. Đến khi nội chiến Trung Quốc xảy ra - quân Cộng sản đánh nhau với quân Tưởng - Tây Tạng nhờ vào vị trí địa lý của mình mà được yên ổn trong một giai đoạn ngắn.
Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc của phe Cộng sản đuổi được Tưởng Giới Thạch ra Đài Loan, Tây Tạng lại đứng trước nguy cơ mới. Năm 1950, khi vừa thắng Tưởng, quân đội của Trung Quốc Cộng sản đã tiến vào Lhasa, đè bẹp sự chống đối của đội quân yếu đuối của người Tây Tạng và đưa ra tuyên bố chủ quyền đối với vùng đất này. Họ đã đưa ra “Tuyên bố 17 điểm” và buộc người Tây Tạng ký vào.
Đến năm 1959, một cuộc khởi nghĩa của người Tây Tạng chống lại sự cai quản của chính quyền Bắc Kinh đã nổ ra nhưng bị dập tắt dễ dàng. Vị Dalai Lama 14 (Tenzin Gyatso) đã phải chạy sang Ấn Độ sống lưu vong. Một chính phủ Tây Tạng lưu vong sau đó được hình thành tại thành phố Dharamsala, Ấn Độ. Ban đầu chính phủ này theo đuổi mục tiêu độc lập cho Tây Tạng nhưng sau đó dường như họ đã hạ xuống một mức: đòi quy chế tự trị sâu sắc cho Tây Tạng (chứ không phải chỉ trên danh nghĩa tự trị như hiện nay). Hiện dù mang danh nghĩa là Khu tự trị nhưng Tây Tạng vẫn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền Bắc Kinh.
Trong khi Dalai Lama cùng những người Tây Tạng lưu vong có nhiều nỗ lực trong việc đòi độc lập thì người Tây Tạng trong nước cũng đã có nhiều cuộc phản đối. Năm 1989, khi cuộc biểu tình rầm rộ của sinh viên, trí thức và đông đảo các thành phần ủng hộ dân chủ khác diễn ra ở Thiên An Môn (Bắc Kinh) thì người Tây Tạng ở Lhasa và nhiều nơi khác cũng tổ chức biểu tình chống lại sự cai quản của chính quyền Bắc Kinh. Nhưng rồi làn sóng chống đối cũng bị dập tắt dễ dàng.
Vào tháng 3.2008, nhiều cuộc biểu tình ôn hòa do các nhà sư tổ chức đã diễn ra ở thủ phủ Lhasa. Các cuộc biểu tình hưởng ứng do người Tây Tạng lưu vong và những người đồng cảm cũng được tổ chức khắp nơi: Ấn Độ, Nepal, Đài Loan, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Úc, Canada, Thụy Sĩ... Biểu tình ủng hộ người dân Tây Tạng còn diễn ra tại nhiều tỉnh khác ở Trung Quốc như Cam Túc, Thanh Hải, Tứ Xuyên... Các cuộc biểu tình này đã thành công ở góc độ nó khơi dậy sự chú ý của quốc tế đối với vấn đề Tây Tạng.
Sau giai đoạn biểu tình ôn hòa ở Lhasa, do chủ trương trấn áp mạnh tay của Trung Quốc, đám đông phản đối đã thể hiện sự tuyệt vọng của mình bằng các hành động quá khích, dẫn đến màn đốt xe, đốt nhà, đập phá lan rộng. Nhà cầm quyền Bắc Kinh đã phải tăng cường quân đội, cảnh sát cùng với xe quân sự, thiết giáp... tới để trấn áp người biểu tình. Nhà chức trách Trung Quốc cho biết trong đợt biểu tình bạo động này, có 13 dân thường đã bị giết, 61 cảnh sát bị thương, hàng trăm ngôi nhà, cửa hiệu, xe cộ bị đốt cháy. Thủ phạm là “những kẻ tội phạm ở Tây Tạng bị Dalai Lama xúi giục”. Trong khi đó, các tổ chức người Tây Tạng lưu vong cho biết ít nhất đã có 80 người biểu tình bị cảnh sát và quân đội bắn chết và hàng trăm người bị bắt. Đến ngày 18.3.2008 thì làn sóng phản đối đã bị dập tắt, nhưng không khí căng thẳng vẫn lan tỏa.
Chính sách của Trung Quốc
Cây gậy và củ cà rốt là chính sách mà Trung Quốc đã áp dụng đối với khu vực Tây Tạng kể từ năm 1950 đến nay. Một mặt, họ mạnh tay trấn áp những người chủ trương đòi độc lập cho Tây Tạng. Mặt khác, họ xây dựng một lực lượng thân chính phủ trong lòng người Tây Tạng. Ai ngoan ngoãn thì họ cho yên ổn, ai cứng đầu thì họ triệt tới cùng.
Nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng đã có một số chính sách ưu đãi về kinh tế đối với khu vực này: tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, các chương trình phúc lợi... Tuy nhiên, theo giới trí thức Tây Tạng thì hầu hết số tiền rót vào khu vực này đều nhằm làm lợi cho người Hán, chứ không phải cho người Tây Tạng. Đây chính là nguyên nhân khiến tâm lý chống đối vẫn âm ỉ và khi có cơ hội thì bùng nổ thành những cuộc biểu tình, bạo động.
Nhà cầm quyền Trung Quốc cũng không ngừng đẩy mạnh quá trình đồng hóa về văn hóa và sắc tộc. Trên thực tế, với dân số khoảng 2,5 triệu người, chủng tộc Tây Tạng rất dễ bị hòa tan vào cơ thể phì nộn của gã Đại Hán.
Về chính trị, dù nói là trao quy chế tự trị cho Tây Tạng nhưng toàn bộ bộ máy hành chính của khu vực này vẫn nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của Bắc Kinh. Các hoạt động truyền thống như việc chọn Dalai Lama (Đạt Lai Lạt Ma) và Panchen Lama (Ban Thiền Lạt Ma) cũng bị chính quyền Bắc Kinh can thiệp. Vào năm 1995, một thời gian sau khi Panchen Lama thứ 10 qua đời, Dalai Lama 14 đã tiến cử Gedhun Choekyi Nyima (sinh tháng 4.1989) làm Panchen Lama thứ 11. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Trung Quốc đã loại bỏ Gedhun Choekyi Nyima và chọn một đứa trẻ khác (Qoigyijabu) làm Panchen Lama 11. Cũng sau sự kiện đó, Gedhun Choekyi Nyima biến mất một cách bí ẩn. Các nhóm Tây Tạng lưu vong cáo buộc nhà cầm quyền Trung Quốc đã giam cầm Gedhun Choekyi Nyima và nói rằng đây là “tù nhân trẻ nhất thế giới”. Trong khi đó, chính phủ Trung Quốc cho biết Gedhun Choekyi Nyima đang sống bình yên tại một nơi nào đó nhưng không tiết lộ vì lý do an ninh. Trong các cuộc biểu tình gần đây, nhiều người Tây Tạng lưu vong đã giơ cao khẩu hiệu: “Free Tibet! Free Panchen Lama!” (Trả tự do cho Tây Tạng! Trả tự do cho Ban Thiền Lạt Ma!) là vì thế.
Không phải là Kosovo
Kịch bản của các vùng đất ly khai thường tương tự nhau. Đầu tiên là làn sóng bạo lực bùng lên. Tiếp đó, để giải quyết vấn đề, LHQ sẽ thông qua nghị quyết gửi lực lượng gìn giữ hòa bình tới, rồi có thể một bộ máy quản lý lâm thời của LHQ được thành lập, sau đó có thể là những bước tiến xa hơn, chẳng hạn trao lại quyền tự trị cho người dân và sau đó tiến hành các bước để thành lập một quốc gia độc lập.
Việc Kosovo ly khai khỏi Serbia gần đây là ví dụ tiêu biểu nhất.
Mới đây, khi làn sóng bạo lực xảy ra tại Lhasa, cũng có nhiều lời kêu gọi LHQ điều tra vụ việc. Tuy nhiên, khả năng LHQ can thiệp vào nội bộ Trung Quốc là điều rất xa vời.
Trung Quốc không phải là Serbia, nên Tây Tạng hiển nhiên không phải là Kosovo.
Trung Quốc là nước lớn, họ không bao giờ chịu nhả một vùng đất rộng lớn như Tây Tạng. Nga là một nước lớn, họ không bao giờ cho phép Chechnya ly khai. Mỹ là nước lớn, họ không bao giờ cho Puerto Rico độc lập, Anh cũng sẽ không chấp nhận Bermuda, Gibraltar ra riêng.
Một con hổ khi đã chộp được mồi, lẽ nào nó lại nhả ra.