31.12.07

Cấm ba gác MÁ




Lâu lâu mới thoát được độ nhậu vào chiều chủ nhật, tôi vội vã phóng xe về nhà, tắt mô bai, tắm rửa và xem ti vi. Quả là một buổi tối lành mạnh hiếm hoi trong đời.

Thế nhưng tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Khi không ông Tư ba gác đầu ngõ tới kêu: "Chú, ra nhậu với tui phát".

OK ngay. Cũng hiếm khi được nhậu với hàng xóm. Không OK mới lạ. Tới nơi thấy một be chuối hột, mấy món nhậu lai rai khá bắt mắt.

"Ủa, tiệc gì sang vậy chú?"

"Sang con mẹ gì. Tiệc treo xe đó."

"Vụ này hơi lạ à nha. Treo xe là sao?"

"À, xe ba gác của tui mai chỉ chạy được một ngày nữa thôi. Tới mốt là xếp xó. Nhà nước cấm tiệt rồi."

Ái chà, thế là hôm ni nhậu giã từ vũ khí đây.

"Nhà nước cấm là phải chú ơi. Xe chú chạy giữa phố như mấy thằng điên. Không biết xơi tái người ta lúc nào."

"Thấy vậy chứ an toàn lắm. Tui chạy hai chục năm nay chưa hề gây tai nạn. Phải nói là tay lái vàng."

"Bác tay lái vàng. Nhưng người khác gây tai nạn hoài à. Cấm là đúng. Nhưng bác định làm gì? Chắc mua chiếc bốn bánh để tiếp tục hành tẩu giang hồ quá..."

"Chú đùa hay giỡn vậy. Bán cái nhà nát này có mua được bốn bánh không? Tui định chuyển qua xe ôm. Chiếc ba gác cà tàng đó theo tui được ngót hai chục năm rồi. Nuôi sống cả năm miệng ăn."

"Thưởng cho nó cái huân chương rồi bán sắt vụn đi. Góp tiền mua xe máy mà đi ôm. Chuyển từ voi sang xài xích thố, oách quá còn gì."

"Căng lắm chú. Trước có nó tui kiếm được ngày vài chục. Góp cùng bà xã nuôi sống cả nhà. Giờ thì xe ôm không biết có sống nổi không. Mai chắc kêu thằng ku lớn nghỉ học chạy gạo."

"Đừng làm thế chú ơi. Phải cho học tiếp mai mốt nó kiếm tiền về nuôi cha mẹ. Bộ chú muốn sau này nó cũng xe ôm à?"

"Tui đâu muốn thế. Nhưng nay mất nghề rồi, biết làm sao. Tui đâu làm nhiều tiền như chú mà nghĩ xa."

"Con mà nhiều tiền chết liền á. Nhưng mà phải tính nước khác thôi. Nước đó không ổn..."

"Còn nước nào nữa. Nhà nước bảo cấm thì mình phải chấp hành thôi. Bộ chú muốn xúi tui chống lại à?"

"Không phải chống. Nhà nước làm vậy là đúng quá trời. Xe ba gác mấy chú chạy ồn ào, nguy hiểm, xịt khói tùm lum, làm xấu phố phường. Nhưng mà... căng quá. Thôi, cụng phát rồi tính tiếp. Trăm phần trăm nha bác..."

"Chú nói vậy mà đúng. Có lẽ thành phố đang ngày càng văn minh hơn. Bọn tui rách rưới quá thì phải lánh đi, cho thành phố nó sạch đẹp."

"Ớ, cũng không phải thế... Thôi làm ly nữa chú. Hôm nay phải uống thật say để giã từ hai mươi năm chinh chiến. Mai là ngày rong ruổi cuối cùng. Mai chú xách xe tới đầu ngõ làm kiểu để con chụp một tấm treo làm kỷ niệm nhé."

Rời nhà chú Tư ba gác trong chếnh choáng cơn say, lòng tôn xốn xang lạ. Ngày mốt, chú ấy sẽ giã từ hai mươi năm ba gác, cho thành phố này đẹp hơn, an toàn hơn. Thành phố này có gần một trăm ngàn người chạy ba gác như chú, cùng với họ là gần một trăm ngàn gia đình.

Ngay mốt, họ sẽ đối mặt với thách thức mới.

30.12.07

Tinh thần phê và tự phê muôn năm

Năm hết tết đến, cũng là dịp mà tất cả cơ quan, đoàn thể ở xứ ta mở hội thi "sáng tác báo cáo cuối năm". Nếu có dịp đọc những bản báo cáo này, quý vị sẽ thấy đất nước ta toàn người tài giỏi, suốt 365 ngày không có ngày nào không làm việc tốt, không lập thành tích xuất sắc. Sai sót có chăng cũng chỉ bé tí ti và đều do khó khăn khách quan mà thôi. Đất nước ta vì thế đang là rồng là phượng, bỏ xa Anh, Mỹ, Pháp, Nhật.

Tiếp theo "bản tự kiểm cuối năm" là những cuộc họp chi bộ đảng rôm rả, với tinh thần phê và tự phê phải nói cao như tiếng hát của cô Rơ Chăm Pheng. Tại một cuộc họp chi bộ đảng ở cơ quan nọ, sau màn long tranh hổ đấu của đám tép riu là đến lượt đồng chí Chủ tịch đọc bản tự kiểm. Đại khái cũng gồm ưu điểm gà cồ và khuyết điểm hạt cát. Cả phòng họp vỗ tay rần rần và tiếp đó là những lời xuýt xoa tán thưởng.

"Phải nói đồng chí Chủ tịch là cái đầu tàu dẫn dắt cả đoàn tàu chúng ta phăng phăng tiến về phía trước."

"Đồng chí Chủ tịch là tấm gương sáng cho cán bộ, đảng viên noi theo."

"Bản tự kiểm của đồng chí Chủ tịch quả là quá khiêm tốn, chưa nêu bật được những đóng góp của đồng chí cho đơn vị ta."

Vân vân và vân vân...

Giữa lúc đám đông đảng viên đang tranh nhau ca tụng thủ trưởng, chợt từ hàng ghế giữa, bà Kế toán trưởng đứng bật dậy.

"Tôi nghiêm khắc phê bình đồng chí Chủ tịch."

Cả hội trường chùng xuống, lặng ngắt, không cần thính tai cũng nghe rõ tiếng tim đập thình thịch của mỗi đảng viên ưu tú. Ai nấy mặt mày tái xanh tái xám. Duy chỉ có bà Kế toán trưởng là mặt đanh lại, y như chị Võ Thị Sáu lúc đứng trước đội thi hành án của quân thù. Phía trên kia, ai tinh ý sẽ thấy đồng chí Chủ tịch khẽ nở một nụ cười.

"Tôi xin nhấn mạnh, tôi phê bình đồng chí Chủ tịch một cách nghiêm khắc", bà Kế toán trưởng tiếp tục. "Thưa chi bộ, như chúng ta đã biết, đồng chí Chủ tịch đóng vai trò đầu tàu của cơ quan. Đồng chí ấy là guồng máy để kéo tất cả chúng ta lao về phía trước. Sức khỏe và trí tuệ đồng chí Chủ tịch là tài sản chung của cơ quan ta. Một cơn đau đầu sổ mũi của đồng chí cũng có thể khiến cả đoàn tàu chùng xuống, mất tốc độ. Chúng ta phải quán triệt điều đó. Vì vậy, điều tôi muốn phê bình ở đây là đồng chí Chủ tịch đã không có ý thức giữ gìn sức khỏe bản thân. Đêm nào tôi cũng thấy đồng chí thức làm việc ở cơ quan đến ba bốn giờ sáng. Có bữa đồng chí còn nhịn ăn để tiết kiệm tiền gửi chăm sóc nhân viên dưới quyền bị ốm. Chẳng những thế, đồng chí còn hao tâm tổn lực đi xe hàng chục cây số để thăm bà con nhân dân ở các vùng lũ lụt. Đồng chí còn đôn đốc kêu gọi anh em hiến máu nhân đạo. Đó là những hành động cao cả, nhưng qua đó có thể thấy đồng chí Chủ tịch đã không quan tâm đúng mức tới sức khỏe và lợi ích của bản thân. Từ những vấn đề trên, tôi xin nghiêm khắc phê bình đồng chí Chủ tịch về ý thức bảo vệ tài sản đơn vị, cũng là tài sản của nhân dân. Tôi muốn nhắc lại và nhấn mạnh rằng sức khỏe, trí tuệ, trái tim, khối óc của đồng chí Chủ tịch là tài sản chung của tất cả chúng ta, của toàn xã hội, của toàn đất nước, toàn hành tinh này. Vì vậy chúng ta cần có nhiệm vụ bảo vệ tài sản đó và đồng chí Chủ tịch cần nâng cao ý thức tự bảo vệ tài sản đó. Tôi xin hết ạ."

Chủ nhật cuối cùng của năm 2007

Sáng chủ nhật, theo thói quen mới hình thành, tôi phóng xe máy tới Hồ Con Rùa, lao xuống dọc đường Phạm Ngọc Thạch rồi Nhà thờ Đức Bà. Phải nói là không khí tại đây trong buổi sáng chủ nhật cuối cùng của năm 2007 yên ắng một cách bất thường. Quán cà phê đông đúc bên vỉa hè Diamond Plaza đã được "quy hoạch" lên phía trên này một chút. Cũng chả có mống nào ngồi nhâm nhi cả. Chỉ có công an chìm nổi, dân phòng lăng xăng. Lực lượng công quyền dường như đang độc thoại.

Ở góc đường Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch, Tòa lãnh sự Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trắng dã, im lìm. Phía đối diện là Nhà văn hóa Thanh Niên TP.HCM. Không khí ở đó nhộn nhịp hơn một chút. Các bạn thanh niên sôi nổi của chúng ta, một cách vô thức, đang quay cuồng trong điệu múa lân - múa rồng và khúc nhạc vay mượn từ nền văn hóa phương bắc.

Bất giác, tôi sờ lên mặt mình.

Ối dào, suy nghĩ lẩn thẩn làm gì, vào ăn tô hoành thánh cho đỡ xót ruột cái đã.

28.12.07

पर्यटन भूगोल या भू-पर्यटन, मानव भूगोल की एक प्रमुख

सिंधी भाषा भारत के पश्चिमी हिस्से और मुख्य रुप से गुजरात और पाकिस्तान के सिंध प्रान्त में बोली जाने वाली एक प्रमुख भाषा है। इसक संबंध भाषाई परिवार के स्तर पर आर्य भाषा परिवार से है जिसमें संस्कृत समेत हिन्दी, पंजाबी और गुजराती भाषाएँ शामिल हैं। सिंधी भाषा पाकिस्तान में नस्तालिक लिपी में लिखी जाती है जबकि भारत में इसके लिये देवनागरी और नस्तालिक दोनो प्रयोग किये जाते हैं।

पर्यटन भूगोल या भू-पर्यटन, मानव भूगोल की एक प्रमुख शाखा हैं । इस शाखा में पर्यटन एवं यात्राओं सम्बन्धित तत्वों का अध्यन भौगोलिक पहलुओं को ध्यान मे रखकर किया जाता है। वास्तव मे कहा जाए तो भूगोल और पर्यटन का सम्बन्ध बहुत पुराना रहा है | भूगोल ने पर्यटन को विकास का रास्ता दिखाया और इसी रास्ते पर चलकर पर्यटन ने भूगोल के लिए आवश्यक तथ्य एकत्रित किए । जब अमेरिगो वेस्पुक्की, मेगेलन कोलम्बस, वास्को डि गामा और फ्रांसिस ड्रेक जैसे हिम्मती यात्रियों ने भूगोल का आधार लेकर समुद्री रास्तों से अनजान स्थानो की खोज प्रारम्भ की | यही से भूगोल ने पर्यटन को एक प्राथमिक रूप प्रदान कर दिया था |

Tại sao?

Tại sao người ta lại phải luôn có hai bộ mặt, một trên blog và một ngoài đời?

27.12.07

Một nén nhang cho bà Bhutto

Chiều 27.12, sau buổi mít tinh ở Rawalpindi, bà Benazir Bhutto tràn đầy hy vọng về con đường phía trước. Nhưng hai phát đạn và một khối bom đã khiến bà phải dừng lại mãi mãi. Xin thắp một nén nhang cho người đàn bà đẹp đầy tham vọng của vùng đất Nam Á...

Bà Bhutto tại Đại học Harvard năm 1989.

Và vài phút trước khi bị sát hại...

Hậu Chí Phèo - Tập 2


Tập 2
Sau khi dẹp được đám dân làng chửi rủa Lão Hạc, Phèo ta rất khoái chí. Chưa bao giờ hắn thấy rõ được uy quyền của mình như thế này. Giữa lúc hắn đang giương giương tự đắc thì ái thiếp Thị Nở tâu lên:

"Bẩm quan lớn, quan lớn biết tại sao đám dân đen có thể làm loạn không?"

"Ơ, con này hỏi kỳ... Thế tại sao nào?"

"Bẩm, tại chúng biết nói."

"Ơ, người thì phải biết nói chứ."

"Dạ bẩm, tại chúng biết nói nên chúng mới liên hệ với nhau được. Tại chúng biết nói nên chúng mới chửi anh Hạc được. Tại..."

"Thôi...", Phèo đập bàn quát lớn. Đây chính là điều Phèo hiểu rõ nhất. Ngày xưa nếu bị câm thì hắn đã không thể tru tréo trước cổng nhà Bá Kiến mỗi ngày được rồi. Phèo hiểu rõ rằng chính trò chửi bới liên hồi đó đã khiến lão Kiến hết chịu nổi mới dẫn đến trận thư hùng trước nhà Chị Dậu năm nào. Kết cục là Chí Phèo đả bại Bá Kiến để điều hành làng Vũ Đại. Nếu Phèo không biết nói, không thể chửi rủa thì hắn đã không có ngày hôm nay. Quả thực tiếng nói là một thứ vũ khí nguy hiểm.

"Hay!", Phèo thét lên khiến Thị Nở giật nảy mình. "Giỏi, ngươi đúng là ái thiếp của ta. Ngươi đúng là con đàn bà tóc dài mà đầu cũng dài hiếm hoi trên thế gian này. Ngươi chẳng những biết nấu cháo hành mà còn biết trò chơi quyền lực".

Thị Nở bẽn lẽn: "Hổng dám đâu." Đoạn ả nói tiếp: "Thế quan lớn sẽ làm gì nào?"

"Ngươi không phải dạy khôn ta. Ta tự có cách."

Ngay ngày hôm sau, Chí Phèo ra bố cáo bắt dân làng Vũ Đại không được nói, phải câm hoàn toàn. Ai vi phạm sẽ bị cắt lưỡi. Chỉ có Phèo và đám cận thần mới có đặc quyền nói.

Kể từ giờ phút đó làng Vũ Đại im ắng như bãi tha ma. Từ đầu đến cuối làng, người ta gặp nhau chỉ gật gật vài cái coi như "chào xã giao". Lũ trẻ con có lỡ khóc ré lên thì bố mẹ chúng vội vàng dùng tay bịt miệng, lấy giẻ nhét vào hoặc, áp dụng công nghệ hóa màu, dùng băng keo dán miệng. Cũng có vài trường hợp bức bối quá chịu không nổi, ho khan vài tiếng, thế là bị đám thuộc hạ của Phèo cắt lưỡi ngay lập tức.

Tình hình trên kéo dài được một thời gian thì cậu Nam Cao ở cuối làng nghĩ ra một chiêu mới để lách luật: đánh rắm. Số là Chí Phèo chỉ ra lệnh cấm nói chuyện nên việc đánh rắm không bị coi là phạm pháp. Thế là dân Vũ Đại chuyển qua đánh rắm thay cho nói. Người ta quy ước đánh một phát có nghĩa là "hello", đánh hai phát là "good bye", ba phát là than vãn, bốn phát là chửi thề. Vân vân và vân vân.

Phong trào đánh rắm phát triển đến mức nhiều người luyện được các chiêu thức thượng thừa. Người ta chẳng những có thể đánh các câu đơn giản như "chào bác", "chào cô" mà còn có thể đánh "tôi ghét lão Phèo", "lão Phèo thật độc ác". Có người đánh một lúc được vài trăm phát là chuyện thường, y như bắn súng liên thanh vậy. Lũ trẻ con mới mở mắt cũng học đánh rắm. Tình hình đánh rắm tại làng Vũ Đại phải nói là "trăm hoa đua nở", đủ thứ âm thanh, mùi vị, thậm chí màu sắc nữa.

Chuyện này làm cho Phèo và đám thuộc hạ đau đầu nhức óc. Cấm đánh rắm chăng? Phèo phân vân không biết xử trí thế nào. Giữa lúc đó Thị Nở xuất hiện. Thị Nở lâu nay luôn hiện ra đúng lúc và mang theo nhiều phương án cứu rỗi đời Phèo, thuở cơ hàn thì bát cháo hành hoặc cái bánh bèo nhão nhoẹt của thị, còn lúc Phèo có quyền lực thì Nở tư vấn các giải pháp quản lý xã hội vĩ mô.

"Phải cấm dân làng đánh rắm thôi", Phèo phán.

"Ấy chết, cấm nói thì được, cấm đánh rắm thì không. Không nói người ta vẫn có thể sống, còn không đánh rắm thì chỉ có nước vỡ bụng mà chết", Nở phân tích. Thị còn nói với Phèo rằng nếu cấm dân đánh rắm thì làng Vũ Đại sẽ bị các làng bên, trừ làng Lão Hạc, phê phán là gia trưởng, độc tài. Lỡ có ai đó vỡ bụng chết vì ứ hơi thì Phèo sẽ bị phê phán là vi phạm nhân quyền. Thế nên tuyệt đối không được cấm đánh rắm.

"Thế phải làm thế nào?", Phèo hỏi.

"Phải siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm", Nở thì thào vào tai Phèo. Sau đó Nở còn nói nhiều thứ nữa, nhưng chỉ cho một mình Phèo nghe thôi.

Ngay ngày hôm sau, Phèo ra bố cáo cho toàn dân làng Vũ Đại: Phàm là người thì ai cũng phải đánh rắm. Đó là quyền lợi thiêng liêng nhất. Làng không cấm. Nhưng do có nhiều kẻ lợi dụng việc đánh rắm để phá hoại trị an nên từ nay làng sẽ siết chặt quản lý hoạt động đánh rắm. Tất cả mọi người chỉ được đánh rắm ở mức độ vừa phải và rắm phải thơm. Ai đánh rắm to, thối sẽ bị phạt nặng. Ai vi phạm nhiều lần sẽ bị trát lỗ đít, khỏi đánh rắm luôn.

Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, Phèo thành lập một nhóm đặc nhiệm với thành viên là các bợm nhậu biết điều từng vào sinh ra tử với hắn ở tất cả quán xá trong làng. Ngày ngày đám này đi khắp làng dỏng tai lên nghe xem có ai đánh rắm lớn, lâu lâu lại khịt khịt mũi xem kẻ nào đánh rắm thối để đem ra trừng trị.

Kể từ đó hoạt động đánh rắm ở làng Vũ Đại đi vào khuôn phép thấy rõ. Các cao thủ đánh rắm trong làng không còn đất dụng võ. Bí quyết đánh rắm từng chuỗi dài như bắn súng máy ngày càng mai một, đi dần đến chỗ thất truyền.

Mời xem tập 3

Tự thiến

Hắn có vũ khí, nhưng hắn đã tự cắt đi. Vì sợ làm gã hàng xóm giận. Giờ thì ngay cả đối với vợ mình hắn cũng chẳng mần ăn chi được, để cho lão hàng xóm mặc sức dày vò. Đó là hành vi của kẻ bạc nhược vậy. Than ôi!

user posted image

26.12.07

Ái ân

vật vã

khát cháy

tôi hấp tấp

lột trần em

rồi đổ vật xuống giường

ghì lấy em

và bú

làn nước em

tưới mát

cổ họng tôi

em trần truồng

mơn trớn

lưỡi

môi...

tôi thét gọi

monte rosa

nàng hỡi!

25.12.07

Hậu Chí Phèo - Tập 1






Tập 1

Sau khi đánh chết Bá Kiến trong một cuộc ẩu đả tưng bừng trước nhà Chị Dậu, Chí Phèo nghiễm nhiên trở thành chủ nhân ông của làng Vũ Đại, được đông đảo dân chúng ủng hộ hết mình. Kết thúc trận kịch chiến ấy, Phèo từ một tay bợm nhậu bỗng chốc biến thành người hùng. Trong mắt dân chúng, kể cả một số kẻ thù xưa của Phèo, hắn là một trang hảo hán, là người soi đường chỉ lối.

Trên cương vị mới, Phèo bắt đầu tận hưởng hương vị chiến thắng và thi hành chính sách chăn dân do người anh lớn cai quản làng bên là Lão Hạc tư vấn. Đối với đám bạn nhậu đầu trộm đuôi cướp thuở xưa, ai biết điều thì Phèo cất nhắc lên các vị trí như phụ trách phòng sưu thuế, chỉ huy đội trị an hoặc ít ra cũng cầm loa, gõ mõ. Ai bướng thì Phèo cho vào hợp tác xã, suốt ngày bán mông cho trời, bán mặt cho đất. Đám dân chúng ủng hộ Phèo cũng không khá hơn. Tất cả đều bị lùa vào hợp tác xã. Họ làm lụng quần quật suốt ngày, không còn thời gian để suy nghĩ, thành ra não bộ và lá gan họ teo tóp đến thảm hại.

Đối với tàn quân của Bá Kiến thì khỏi phải nói, Phèo triệt tận gốc. Sợ quá, lũ này di tản sang các làng lân cận. Kẻ không chạy được thì đành ở lại làng Vũ Đại, ngậm đắng nuốt cay như chú hổ bị gã thợ săn Thế Lữ nhốt trong cũi sắt chờ ngày lên bếp lò để hóa thân thành cao hổ cốt.

Chính sách của Phèo thế mà hay. Dân làng Vũ Đại nghe răm rắp. Vì sợ. Khi không đám cận thần của Phèo chỉ đánh rắm một phát cũng có khối người nôn mật xanh mật vàng, chết không kịp ngáp. Làng Vũ Đại tuyệt đối an bình là vì thế.

Nhưng cùng với thời gian, Phèo đối mặt với nhiều mối lo mới. Nhờ tiếp xúc với các làng xã văn minh hơn, đám dân đen Vũ Đại ngày càng khôn ra. Một bộ phận trong số họ vẫn tin Phèo vô điều kiện như con cái tin cha mẹ, nhưng không ít người bắt đầu nghi ngờ Phèo, họ mày mò tìm hiểu bản chất lưu manh trong con người hắn ta. Đám cháu chắt Bá Kiến trong và ngoài làng cũng dần dà tìm cách ngóc đầu dậy. Thậm chí đôi lúc chúng đi lại nghênh ngang, đánh rắm một cách công khai mà chẳng hề nể sợ ai hết. Phèo tức lắm, hắn tìm đủ mọi cách để lập lại trật tự. Hắn vận dụng mọi ngón nghề của một bợm nhậu: đập bàn, dằn ly, xô ghế, thậm chí thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Phèo còn vận thêm mấy chiêu mà người anh lớn là Lão Hạc tư vấn như siết cổ, bịt mồm, bóp mũi. Nhưng chẳng ăn thua.

Giữa lúc tình hình làng Vũ Đại đang nước sôi lửa bỏng, Phèo đang nghiến răng trợn mắt thì Lão Hạc lại xuất hiện cùng mấy con vàng của lão. Lâu nay, cứ mỗi lúc Phèo gặp khó khăn là Hạc ta lại dẫn chó tới để tư vấn cho Phèo cách giải quyết, tất nhiên là có lệ phí hẳn hòi. Lúc thì lão mượn vài cô gái đẹp về đấm lưng, lúc khác lại xin dăm cặp gà tơ về nhắm rượu. Nhưng lần này khác, Hạc ta sấn tới và chẳng nói chẳng rằng lùa nguyên cả bầy trâu của làng Vũ Đại về. Phèo ức, nhưng nhìn lũ vàng nhe nanh trợn mắt của Lão Hạc, hắn ta hồn vía lên mây.

Phèo sợ, nhưng đám dân đen thì không. Họ kéo nhau ra cổng làng Vũ Đại, bắc loa mồm chửi Lão Hạc om sòm. Cả đám con cháu Bá Kiến trong và ngoài làng cũng nổi máu địa phương, đồng tâm hợp lực chửi rủa, rên xiết. Dàn đồng ca Vũ Đại càng hát càng khí thế. Phen này Lão Hạc già nua kia chỉ có đường thủng màng nhĩ mà thôi. Muốn yên thì hãy trả trâu.

Quả thực chưa bao giờ làng Vũ Đại chứng kiến một sự đoàn kết keo sơn đến thế. Khi máu địa phương, lòng tự tôn làng xã nổi dậy, lũ dân đen thật thà, đám bợm nhậu bị thất sủng, một vài kẻ có lương tâm trong số cận thần của Phèo cùng tàn quân Bá Kiến đã dẹp bỏ bất đồng để hướng mũi tấn công về kẻ thù chung có tên là Lão Hạc. Đây cũng là cơ hội vàng cho Phèo ta chấn hưng dân khí, củng cố sức mạnh địa phương, xây dựng tinh thần đoàn kết để đưa làng Vũ Đại tiến lên một tầm cao mới.

Thế nhưng, một mặt do quá khiếp nhược, sợ đám dân đen làm mếch lòng anh Hạc thì nguy to, mặt khác do sợ các thế lực Bá Kiến thuở xưa trỗi dậy và lo rằng dân chúng học được cách đứng lên tranh đấu thì sẽ gây nhiều nguy cơ cho chế độ cai trị gia trưởng của mình, nên Phèo ta quyết dẹp trò chửi rủa. Một mặt hắn bảo với dân làng: "Các con hãy về đi, chuyện anh Hạc đã có cha Chí đây lo. Các con cứ ăn no ngủ kỹ. Mai mốt trâu sẽ tự động về nhà. Đừng tụ tập chửi bới kẻo bị đám con cháu Bá Kiến lợi dụng, làm mất hòa khí giữa Vũ Đại ta và anh Hạc. Thằng Kiến thì các con biết rồi đấy. Nó ác, dâm, đểu. Nó là thằng khốn nạn. Các con phải nhớ điều ấy".

Cùng với lời khuyên giải như cha răn con, Phèo còn cho tay chân ra cổng làng giải tán dân chúng. Sau đó đi điểm mặt các nhân vật chủ chốt để tẩm quất. Hắn còn ra lệnh cho đám lâu la làm nghề đánh kẻng, gõ mõ, vác loa không được chửi Lão Hạc, không hùa theo dân đen, không cho bọn tàn quân Bá Kiến cơ hội lợi dụng, hãy ca ngợi tình đoàn kết giữa Chí Phèo và Lão Hạc.

Biện pháp của Phèo lần này cũng phát huy tác dụng. Vào những ngày tiếp sau đó, chẳng còn mống dân đen nào tụ tập trước cổng làng. Trò chửi bới Lão Hạc tuyệt nhiên không. Một vài kẻ dám ho khan, đánh rắm thì bị tay chân của Phèo đánh đập tơi tả.

Nhưng có một điều Phèo không nhận ra. Đó là giờ đây đã có thêm nhiều người ghét hắn. Đám cháu chắt Bá Kiến đã đành, đám bợm nhậu bị thất sủng chẳng nói làm chi. Ngay trong số dân đen từng tin Phèo vô điều kiện giờ cũng có thêm nhiều người nghi ngờ hắn, thậm chí oán hắn. Phèo đã bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng để tập hợp dân chúng xây dựng làng Vũ Đại giàu mạnh khiến Lão Hạc không còn dám làm càn.

Giờ đây Phèo đang rất cô độc. Hắn không còn tâm trí nghĩ đến chuyện đòi lại đàn trâu nữa.
Mời xem tiếp tập 2 tại đây

23.12.07

Tin tức ngày Giáng sinh

Sáng 24.12, một đoàn tàu chở hàng đã đâm thẳng vào một chiếc xe khách nhỏ tại đoạn đường giao nhau ở phía nam thủ đô Baghdad của Iraq làm chết một đôi vợ chồng và 11 em bé. (Theo AP)

Một thảm kịch trong ngày Noel. Nhưng ở đất nước này, việc có vài chục mạng người bốc hơi cùng lúc chẳng phải là điều gì ghê gớm. Trái lại, đó là chuyện bình thường.

Đêm Giáng sinh, hãy dành lời nguyện cầu đầu tiên cho thế giới yên bình, bạn nhé.

Có ai muốn thét?!




Buổi sáng chủ nhật, trời Sài Gòn se se, không khí Noel đậm đặc. Tôi hớt hải bước, qua Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Con Rùa rồi hướng về Nguyễn Thị Minh Khai - Phạm Ngọc Thạch. Đây là nơi từng diễn ra những cuộc biểu tình yêu nước trong hai chủ nhật trước.

Nhưng hôm nay tôi tới đây không phải để biểu tình. Tôi muốn đi gặp Chúa. Không có hẹn trước nhưng tôi tin ông ấy đang có mặt đâu đó ở khu Nhà thờ Đức Bà. Trước sinh nhật của mình, thể nào ngài cũng hạ giới rong chơi vài hôm xem chúng sinh ra sao. Tôi đang mất niềm tin trầm trọng, đúng hơn là rất hoang mang, nên cần một ai đó dẫn đường chỉ lối. Tôi nghĩ Chúa là thích hợp nhất. Tôi muốn hỏi ông ấy vài điều.

Qua khu vực từng diễn ra các cuộc biểu tình yêu nước, tôi thấy trống trơn. Đúng ra có rất nhiều người, nhưng toàn cớm chìm cớm nổi. Người biểu tình yêu nước thì tuyệt nhiên không.

Lòng tôi bâng khuâng. Ngay chỗ này, buổi sáng chủ nhật trước còn tràn ngập những con người đầy nhiệt huyết, từ cụ già ngoại tám mươi như nhạc sĩ Tô Hải đến em bé mới chập chững biết đi. "Trường Sa - Hoàng Sa của Việt Nam"..., dòng khẩu hiệu mang âm hưởng Bài thơ Thần của những người con đất Việt không còn. Lòng xốn xang, tôi vẳng nghe trong gió câu phú xưa của danh sĩ đời Trần:

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá
Tiếc thay dấu vết luống còn lưu

Lòng tôi tràn ngập những dấu chấm hỏi. Tại sao không có biểu tình như trước? Phải chăng người dân thấy chừng ấy đã đủ? Hay nhà chức trách siết chặt quá? Hay lòng yêu nước cũng giống những cơn sốt mà các ca sĩ trẻ thường tạo ra trên thị trường âm nhạc, bùng lên trong chốc lát rồi chìm vào lãng quên?

Tôi dạn dĩ bước qua những hàng rào cảnh sát, những đoàn xe chuyên dụng để leo lên vỉa hè bên phía Diamond Plaza. Ở đây đông vui hơn một chút. Lác đác trong đám đông có vài hình ảnh của chủ nhật tuần trước. Đó là những chiếc mũ với dòng chữ: "Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam". Nhưng những con người đó quá ít và manh mún để có thể tạo nên một làn sóng. Tất cả những gì họ có thể làm là ngồi nhâm nhi ly cà phê đắng chát, làm dáng cho an ninh quay phim, chụp hình. Dưới vỉa hè, mấy chú công an chìm nổi đảo qua đảo lại liên hồi.

Giữa không khí im ắng một cách khiên cưỡng đó, chốc chốc lại vang lên tiếng chửi rủa. Tôi quay lại xem thì thấy một phụ nữ nghèo. Chị ta đang chửi ai đó và kể lể về gia cảnh của mình, về chuyện mất đất đâu ngoài Bình Thuận. Tiếng chị lạc lỏng. Người ta, bao gồm cả tôi, mấy chú công an và khách qua đường, nhìn chị bằng cặp mắt thương hại dành cho một bệnh nhân tâm thần hơn là sự sẻ chia.

Tôi bước vội vào quán để tránh phải tiếp tục nghe tiếng chửi. Tôi biết chị đang đau khổ vì mất vài héc ta đất ở quê.

Nhưng tổ quốc của chị cũng đang dần mất đi hàng triệu triệu héc ta đất biển. Sao chị không gào lên vì điều đó?

Tôi muốn gào thật to. Nhưng sao tôi không gào nhỉ?

Ở đây có bao nhiêu người muốn gào?

Hãy trả lời tôi, Chúa!

22.12.07

Phản công chiến dịch hiếp jâm của Tàu

Phải nói Trung Quốc đã chuẩn bị cho "sự kiện Tam Sa" một cách bài bản, theo kiểu chiến tranh tổng lực. Và một trong những đòn độc của họ là chiến thuật "hiếp dâm về mặt thông tin". Họ đã sửa chữa, thêm bớt các thư tịch cổ để ngụy tạo bằng chứng lịch sử rằng Trung Quốc đã quản lý Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) từ thời Tống, thời Minh. Họ đã tổ chức hàng loạt buổi hội thảo quốc tế, trong đó trưng ra các bản đồ, thư tịch "giả cổ" để thuyết phục rằng họ là chủ nhân ông của Nam Hải, tức biển Đông của chúng ta.

Và trong thời đại này, họ đã tận dụng ngay vũ khí internet để phát tán thông điệp đó.

Hiện nay Wikipedi là từ điển mở trực tuyến lớn nhất thế giới, nó có sức lan tỏa cực kỳ lớn. Tại đây, người sử dụng có thể vào đó và sửa chữa hầu hết các thư mục. Wikipedia có một đội ngũ biên tập theo dõi các trường hợp đưa tin bịa đặt để sửa chữa kịp thời. Tuy nhiên, với một khối lượng thông tin được cập nhật hằng ngày khổng lồ, việc kiểm soát tất cả những gì được đưa lên là điều bất khả thi. Mặt khác, đối với những thông tin đã có các nguồn tài liệu ngụy tạo kỹ càng làm bằng chứng thì Wikipedia cũng không thể phát hiện được.

Lợi dụng tình hình này, chính phủ Trung Quốc đã liên tục đưa vào mạng Wikipedia ở các danh mục liên quan đến Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của ta) vô số bằng chứng ngụy tạo nhằm khẳng định rằng hai quần đảo này thuộc chủ quyền của họ. Nếu vào Wikipedia tiếng Tàu, quý vị sẽ thấy hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa là của Trung Quốc từ thời cổ đại đến nay và hiện Việt Nam đang chiếm đóng cũng như đòi chủ quyền một cách bất hợp pháp. Ở các trang Wikipedia tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha..., nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng đưa lên những thông tin có lợi cho họ liên quan đến hai quần đảo này. Vì Wikipedia là bộ từ điển trực tuyến mở lớn nhất thế giới nên mỗi ngày có hàng triệu người đọc được những thông tin mà Bắc Kinh "sáng tác" ra. Và một cách vô tình, họ sẽ tin đó là sự thật. Dần dà, một bộ phận lớn nhân dân trên thế giới sẽ đứng về phía Tàu, bởi những gì mà họ đọc được từ trước đến nay là Việt Nam đang đòi chủ quyền một cách vô lý đối với hai quần đảo vốn đã thuộc chủ quyền Tàu từ hàng trăm năm nay.

Trong cuộc chiến với nhà cầm quyền Bắc Kinh, chúng ta đã có những phản ứng chính thức của chính phủ, những thông điệp mạnh mẽ trên internet và một số tờ báo, đặc biệt nhất là làn sóng biểu tình ôn hòa vừa qua. Tuy nhiên, có một mặt trận mà ta đã vô tình bỏ quên. Đó chính là mặt trận thông tin trên internet. Nếu chúng ta cùng bắt tay vào việc chỉnh sửa các mục nói về Hoàng Sa, Trường Sa trên Wikipedia cho đúng với các tư liệu lịch sử, tức là hai quần đảo này thuộc chủ quyền của Việt Nam, thì trên thế giới sẽ có thêm nhiều người hiểu đúng vấn đề. Từ đó họ sẽ hiểu được dã tâm của Tàu. Từ đó họ có thể sẻ chia, cảm thông và thậm chí ủng hộ ta. Chiến dịch trường kỳ đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa vì thế sẽ có thêm cơ hội.

Trong vấn đề này, tôi đã thử vào mục tiếng Anh nói về Đảo Phú Lâm (Woody Island) thuộc Hoàng Sa và thấy người Tàu ghi là hòn đảo này cùng với toàn bộ Tây Sa (tức Hoàng Sa) đã có trong bản đồ của nhà Tống. Tôi đã sửa lại là nhà Nguyễn của Việt Nam cho đúng với các tài liệu lịch sử. Và mục sửa chữa của tôi đã tồn tại được một thời gian dài. Trong thời gian đó chắc hẳn có rất nhiều người trên thế giới, vốn đang được truyền cảm hứng từ các cuộc biểu tình ở Việt Nam, vào tìm hiểu. Khi đọc được những thông tin đó, họ sẽ hiểu vấn đề theo đúng với sự thật lịch sử, chứ không hiểu theo ý đồ của Trung Quốc.

Nhà cầm quyền Bắc Kinh đang sử dụng chiêu "hiếp dâm thông tin", tại sao chúng ta không cùng hợp sức để bẻ gãy công cụ hiếp dâm của chúng? Việc làm này có ý nghĩa hơn các màn công phá website nhà nước Trung Quốc. Việc làm này cũng có ý nghĩa hơn là tiêu tốn tiền của, thời gian và trí lực của đất nước vào việc phong tỏa website, diễn đàn internet hoặc đánh sập các "blog phá hoại, phản động".

20.12.07

Phỏng vấn chủ tịch huyện Cát Vàng và Cát Dài




Bất chấp tình hình về chủ quyền trở nên hết sức nóng bỏng trong thời gian gần đây thì có một thực tế không thể phủ nhận là nàng xuân đã lấp ló ngoài ngõ. Nhân dịp này, Mr. Do đã xông đất để phỏng vấn các vị chủ tịch huyện đảo Cát Vàng và Cát Dài.

I

Thành phố Da Nàng (ai khéo đặt tên thía!?) hôm nay trời rất đẹp. Nắng vàng lung linh, trời cao xanh ngắt, chim hót vang lừng xen lẫn trong tiếng ồn ào của phiên chợ cuối năm. Khi tôi tới Văn phòng UBND huyện Cát Vàng thì gặp ngay đồng chí chủ tịch đang ngồi trong phòng viết blog. Tôi liếc qua thấy đó là entry có nhan đề "Xuân về nơi đảo xa". Mở đầu là bài thơ tứ tuyệt chứa chan tinh thần lạc quan, yêu đời:

Anh mơ làm con sóng

Mơn trớn bãi bờ em

Cát Vàng ơi, Cát Vàng

Em có nghe anh gọi

Tôi lặng đi vì xúc động trước tâm hồn lãng mạn của đồng chí chủ tịch. Giữa thành phố náo nhiệt này, ông vẫn giữ được sự thảnh thơi thư thái. Thật đúng phong cách của một vị lãnh đạo chính quyền nơi đầu sóng ngọn gió.

Sự xuất hiện đường đột của tôi như đưa tâm hồn ông từ nghìn trùng sóng vỗ theo cánh chim hải âu về với đất liền.

PV: Xin đồng chí cho biết đôi nét về tình hình chính trị, an ninh, xã hội huyện nhà?

Chủ tịch Cát Vàng (CTCV): Cám ơn anh. Nhờ sự chu đáo của các cấp lãnh đạo từ đất nước Tung Của anh em nên tình hình chính trị, kinh tế, an ninh và xã hội ở đấy rất tuyệt vời. Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ nói chung phấn khởi, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của đảng và nhà nước.

PV: Vậy công tác chuẩn bị cho nhân dân huyện nhà đón Giáng Sinh, tết Tây và tết Nguyên Đán đến đâu rồi ạ?

CTCV: Tuyệt cú mèo. Phải nói đây là khía cạnh mà tôi an tâm nhất. Toàn bộ công tác chuẩn bị tết nhất cho nhân dân ngoài đó đã có lãnh đạo đất nước Tung Của vĩ đại lo hết. Được biết năm nay sẽ có 10 tàu chở hàng tết ra đảo. Cán bộ, chiến sĩ và nhân dân sẽ được cấp đầy đủ lương thực, quần áo và các phương tiện vui chơi giải trí. Đàn ông thì được cấp rượu Mao Đài, đàn bà thì có sường xám. Ngoài ra màn thầu, đậu hủ thối, Việt hầm... nhiều vô kể.

PV: Là vịt hầm chứ?

CTCV: Việt hầm. Tôi không nhầm đâu. Là Việt hầm. Đây là món sơn hào hải vị mới được Quốc vụ viện bên đất nước anh em chế biến.

PV: Món đó thế nào ạ?

CTCV: Tôi nghe nói nguyên liệu chế biến được lấy từ vùng đất phương nam nắng nóng kèm với các sản vật bể Đông. Ý tôi muốn nói là Nam Hải ấy. Đây là món cổ truyền của đất nước anh em vĩ đại. Họ đã tìm cách chế biến hàng ngàn năm qua nhưng nói chung chưa được như ý. Riêng năm nay thì cơ hội thành công đã chín. Họ chỉ cần bắc lên bếp và đun là nhũn ra...

PV: Vâng, xin cám ơn ông. Chúc ông một mùa xuân tươi trẻ và vui khỏe.

II

Lưu luyến chia tay với ngài chủ tịch mẫn cán và có tâm hồn thi sĩ của huyện Cát Vàng, tôi lên máy bay trực chỉ phương nam, đến thành phố Dã Tràng có cái vịnh đẹp ơi là đẹp, nghe đâu được xếp vào danh sách 29 kỳ quan thế giới đại dương. Sau một hồi dò hỏi loanh quanh, cuối cùng tôi cũng tới được văn phòng huyện đảo Cát Dài.

So với trụ sở Cát Vàng ngoài kia thì ở Cát Dài thiếu vắng vẻ thanh bình, thơ mộng. Đổi lại nó được cái xôm tụ, chén chú chén ông, người ra kẻ vào nói cười rổn rảng, vui như tết. Cũng là tinh thần lạc quan yêu đời, nhưng mỗi nơi một vẻ mười phân vẹn mười.

Sau khi mời tôi cạn dăm ly rượu mừng xuân theo phương châm "uống rồi mới có quyền phát biểu", đồng chí chủ tịch thoải mái mở đầu cuộc trao đổi:

Chủ tịch Cát Dài (CTCD): Thế nào đồng chí nhà báo, rượu thơm chứ?

PV: Vâng, rất thơm ạ.

CTCD: Đấy là Mao Đài ngâm rắn. Trong kia có nhiều thứ nữa, từ hùm beo cho tới cóc nhái, tôi cho vào hủ ngâm tất.

PV: Có cá ngựa chứ ạ?

CTCD: Có chứ, dân biển sao thiếu món đó được. Cứ gọi là ông uống bà khen.

PV: Em có nghe nói. À, đồng chí chủ tịch nói đến biển em mới nhớ. Hôm nay em tới để hỏi thăm về tình hình huyện đảo...

CTCD: Ái chà chà. Hay đấy. Đồng chí đã đặt ra một vấn đề rất gai góc. Tôi sẽ giải đáp mọi thắc mắc của đồng chí, cũng là của nhân dân cả nước.

PV: Vâng, em muốn biết về tình hình an ninh, xã hội, chính trị, kinh tế của huyện nhà.

CTCD: Tình hình thì như đồng chí đã biết đấy. Tôi phụ trách quản lý một số khu vực trên huyện đảo. Nhìn chung là mọi thứ đều ổn. Nhân dân ta quán triệt tinh thần của trên về xây dựng đời sống văn hóa, gia đình văn hóa, vê a xê, tăng gia sản xuất, xóa đói giảm nghèo. Vân vân và vân vân. Còn một số khu vực thì có lãnh đạo đất nước Tung Của anh em lo. Vấn đề này chắc đồng chí đã thông suốt qua cuộc trao đổi với anh Vàng ngoài kia. Ở Cát Dài có khác một chút, bởi ngoài anh Tung Của thì còn có cậu Đài, bạn Phi, bạn Mã chung tay quản lý. Chú em Bờ Ru cũng muốn nhảy vào, nhưng cậu đó ốm yếu quá, dễ say sóng, nên ta không chịu. Nói chung cậu Đài với ta cũng có truyền thống hợp tác, đặc biệt là trong lĩnh vực cô dâu chú rể. Còn hai bạn Phi và Mã thì đều nằm trong khối A Xê Nan cả thôi, anh em một nhà, họ lo chu đáo hết.

PV: Hình như đồng chí muốn nói khối A Xê An ạ? A Xê Nan là đội bóng của Anh.

CTCD: À, tớ (đồng chí chủ tịch trở nên thân mật) sử dụng tiếng Anh cho nó hợp với tinh thần quốc tế hóa í mà. A Xê Nan với A Xê An thực ra là một... chỉ khác nhau chữ én nờ.

PV: Đồng chí quả thực tinh tế trong cách dụng từ. À, còn cái vụ Tam Xa của anh Tung Của thế nào rồi đồng chí? Em nghe nói vụ này căng...

CTCD: Tam Xa???? Tam Xa là gì? Tớ chưa hề nghe qua (bóp trán suy nghĩ).

PV: Là Tam Xa hay Xà gì đấy...

CTCD: A... (cười ồ lên) là tam xà, tam xà! Về lĩnh vực này thì tớ là chuyên gia.

PV: Em nghe nói vấn đề hơi căng, sau khi Tung Của có kế hoạch Tam Xà...

CTCD: Căng gì mà căng. Họ tam xà thì ta ngũ xà, lục xà, thậm chí thập xà. Cái thứ rượu rắn mà ngâm có ba con thì ăn thua gì. Tớ chuyển qua thập xà lâu rồi. Tớ đang phấn đấu, nghe nói ở ta có người còn ngâm hai mươi xà ấy chứ...

PV: Thưa..., không phải thế ạ, ý em là...

CTCD: Ơ cậu này, còn ý tứ mà làm gì. Chỗ anh em không cần khách khí vậy đâu. Đến nhà tớ là cứ coi như cái toa lết của cậu. Cậu muốn uống tam xà à? Không vấn đề, tớ sẽ cho cậu tắm thập xà đại bổ. Món này mà uống vào thì tinh thần chiến sĩ cứ phải nói là cuồn cuộn như sóng bể Đông.

III

Cuộc phỏng vấn của tôi nhanh chóng kết thúc bằng màn long tranh hổ đấu nơi bàn tiệc. Quả là món thập xà này danh bất hư truyền, uống vào tinh thần lên phơi phới. Nhưng cuộc vui nào rồi cũng kết thúc, mối tình nào cũng đến ngày phân ly. Tôi bịn rịn chia tay đồng chí chủ tịch. Anh chìa tay ra. Tôi dạn dĩ nắm tay anh lắc lắc. Bàn tay tôi lọt thỏm trong bàn tay rắn rỏi của anh, người con biển cả. Bàn tay anh ôm lấy chở che bàn tay tôi, như lời nhắn với tôi và với nhân dân rằng hãy yên tâm, vùng biển trời tổ quốc đang được các anh ngày đêm bảo vệ.

Buổi trưa, thành phố Dã Tràng đẹp mê hồn. Nắng từ trên cao rớt xuống, hòa cùng gió biển từ khơi xa ùa về, mặn và mát tới tái tê. Tôi liêu xiêu bước giữa trưa nắng, trong chếnh choáng hơi men và dư âm của cái bắt tay lịch sử. Lòng tôi vững lạ lùng.

Ngoài kia, biển vẫn xanh, sóng vẫn hát bài ca muôn đời...

Giặc Tàu ở Trường Sa 3 - Phim tài liệu

Tiếp tục

19.12.07

Trường Sa - Hoàng Sa của Việt Nam

Hãy đội trên đầu dòng chữ khẳng định chủ quyền của tổ quốc.

Biểu tình chống ngoại - nội xâm...

Làn sóng biểu tình vừa qua cho thấy phần nào tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc của người dân Việt. Dù ở đâu, dù có dị biệt về lập trường, những người con Việt đã cùng nhau đứng chung một chiến tuyến để chống ngoại bang. Tinh thần đó trỗi dậy đúng lúc và khiến cho kẻ có dã tâm dù hùng mạnh đến mấy cũng phải dè chừng. Đúng như dòng chữ trên tấm biểu ngữ mà cô bé Hương giơ cao giữa lòng thủ đô Hà Nội vào ngày 16.12 lịch sử: We are small but not reconciled to China's invasion (Chúng tôi nhỏ nhưng có võ, không ngán quân xâm lược béo phì các ngươi đâu).

Và thực tế chứng minh tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc đã chiến thắng kẻ thù.

Đó là biểu tình chống ngoại xâm.

Có một người bạn nước ngoài hỏi: "Các bạn chỉ yêu nước khi đứng trước giặc ngoại xâm. Còn với giặc nội xâm thì sao?"

Tôi ngớ người ra. Giặc nội xâm ở đây thì đầy đường. Từ lũ ăn cắp vặt tới những kẻ ăn cắp có tổ chức. Nó ở ngay cạnh ta. Hãm hại ta hằng ngày. Độ nguy hiểm không kém kẻ thù ngoại bang.

Nhưng liệu có một làn sóng nào bùng lên để cuốn sạch chúng? Như làn sóng chống ngoại xâm vừa qua...

Giặc Tàu ở Trường Sa 1- Phim tài liệu

Đây là những đoạn phim tài liệu của Trung Quốc về Trường Sa. Trong phim, bạn sẽ thấy Tàu có cả giàn khoan dầu, các giàn tên lửa đối hạm, pháo, súng ống, khu du lịch, khu bảo tồn sinh thái... tại Trường Sa.

Giặc Tàu ở Trường Sa 2 - Phim tài liệu

Đây là những đoạn phim tài liệu của Trung Quốc về Trường Sa. Trong phim, bạn sẽ thấy Tàu có cả giàn khoan dầu, các giàn tên lửa đối hạm, pháo, súng ống, khu du lịch... tại Trường Sa.

17.12.07

Dân ta biết sử ta

Trong vài năm gần đây, cứ sắp đến ngày lễ lớn là đường phố Sài Gòn lại tràn ngập băng rôn "Dân ta biết sử ta". Trên đó giới thiệu vắn tắt về các anh hùng liệt sĩ, các nhân vật kiệt xuất trong quá khứ của dân tộc và cả những sự kiện lịch sử như trận Bạch Đằng của Ngô Quyền, của Hưng Đạo Vương, trận Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang Trung Nguyễn Huệ.

Sáng nay tôi cũng bắt gặp những dòng chữ đầy cảm xúc ấy. Lời người xưa: "Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có" trên tấm băng rôn treo nơi góc đường Bà Huyện Thanh Quan - Nguyễn Thị Minh Khai làm tôi xúc động mãnh liệt.

Dân ta biết sử ta. Khẩu hiệu rất hay. Một chủ trương rất đúng.

Nhưng sao lịch sử của Hoàng Sa, Trường Sa, của chiến tranh biên giới 1979... vẫn không được đưa ra ánh sáng cho toàn dân biết?

Dân ta biết sử ta. Nhưng sử ta cũng có vùng cấm...

(Sau khi viết entry này xong, tôi nhận được tin người ta đã tháo nhiều băng-rôn "Dân ta biết sử ta" ở các khu vực gần tòa lãnh sự Tàu. Các băng-rôn bị hạ bệ có nội dung liên quan đến trận chiến Bạch Đằng, chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa..., nói chung là liên quan đến lịch sử chống Tàu của dân tộc Việt. Nghe đâu việc tháo dỡ này được thực hiện sau khi có ý kiến của sứ Tàu. Thế là vùng cấm đang được mở rộng).

HÃY NÃ TÊN LỬA VÀO LỊCH SỬ!!!!!!!!!!!

HÃY ĐÀO HỐ CHÔN NÓ!!!!!!!!!!!

(Hãy nã thật lực vào, lịch sử là thứ đã chết, nó sẽ không phản kháng đâu)

Họ đã biết biểu tình

Và dân đã biết biểu tình, đó là điều đặc biệt nguy hiểm...

Đảo trong sương mù...

Thuở tuổi thơ chăn bò, lũ trẻ chúng tôi thường chạy bộ hàng chục cây số qua những đồi cây lúp xúp và đụn cát cao cao để ngắm biển. Tôi còn nhớ cái lần đầu tiên trong đời bắt gặp đại dương. Biển một màu xanh thẳm, cao vút phía trước mặt khi lũ trẻ liêu xiêu vừa leo lên đỉnh đồi cát trắng. Nắng khiến cả bọn lóa mắt. Có đứa reo lên: "Rừng, sao lại là rừng?". Nhưng đó không phải rừng. Là biển. Biển xanh. Cao vút trước mặt. Sau này gặp biển thường xuyên hơn, tôi không còn thấy biển cao nữa.

Tôi còn nhớ tiếng cát biển reo lên dưới chân mình, trong lần đầu tiên ấy. Nghe thật thích. Lũ trẻ chúng tôi càng bước mạnh, tiếng cát càng reo to, như tiếng cười khích lệ vậy.

Và cũng trong cái lần đầu tiên thấy biển, từ trên đỉnh đồi cát trắng tinh, bọn chúng tôi phóng tầm mắt ra xa. Phía chân trời là những chiếc thuyền màu xám, mỏng manh như cánh bèo dập dềnh giữa đồng nước lũ. Xa hơn, tím thẫm, ẩn hiện trong làn hơi nước và ánh chói chang của nắng mai là một hòn đảo nhỏ. Có đứa hét: "Trường Sa kìa!". Đứa khác cãi: "Hoàng Sa chớ! Trường Sa trong nam cơ".

Bất phân thắng bại.

Trong tâm trí lũ trẻ chúng tôi lúc đó, hòn đảo xa kia là nơi các chú bộ đội đang đánh giặc Tàu. Đó là năm 1988. Ba năm sau cơn bão kinh hoàng thổi tung nhà cửa trong đất liền là cơn bão lửa biển khơi thổi bay sinh mạng của nhiều chiến sĩ cùng một vùng biển đảo tổ quốc.

Hồi đó, ngày nào đài cũng đưa tin Trường Sa. Hồi đó, lũ trẻ chúng tôi ngày nào cũng nói chuyện quốc sự. Một phần do nghe đài và một phần là bắt chước người lớn. Người lớn đầu tiên kể chuyện đánh Tàu là anh tôi.

Năm 1988, anh tôi đi bộ đội ở Quản Bạ (Hà Tuyên) mới xuất ngũ. Ba năm đánh nhau với giặc, với muỗi và với rừng thiêng nước độc trên những ngọn núi đá tai mèo vùng biên giới phía bắc, người ốm tong teo. Lâu lâu lại lên cơn co giật, phải trùm chăn thật kín và đốt bếp than để dưới gầm giường cho khỏi lạnh. Hồi đó anh thường ăn cháo trùn. Gớm chết! Nhưng mẹ cứ ép ăn, bảo trùn vào trong bụng sẽ đánh nhau với bọn sốt rét. Ăn nhiều trùn thì quân ta thắng quân địch. Khỏi sốt rét... Tôi tưởng tượng lũ trùn là bộ đội còn mấy con sốt rét kia là giặc Tàu. Chắc chắn trùn sẽ thắng.

Tôi tin điều đó tuyệt đối. Cũng như tôi tin rằng chuồn chuồn đốt vào rốn sẽ giúp bơi giỏi.

Đó là tín ngưỡng của tuổi thơ.

Còn nhớ lần đầu tiên nhìn thấy Trường Sa (hay Hoàng Sa?) từ trên đồi cát, lũ trẻ chúng tôi đã chia nhau đi tìm chuồn chuồn để cho đốt vào rốn với niềm tin rằng sinh vật bé bỏng biết bay này sẽ mang chúng tôi đến đảo xa xem bộ đội ta đánh nhau với giặc Tàu. Nếu cần thì nhảy vào giúp mấy chú một tay. Nhưng làm gì có chuồn chuồn trên đồi cát đầy gió và vắng bóng cây ấy. Thế là bọn tôi lỡ một trận đánh lớn trong đời.

Không có chuồn chuồn, chúng tôi không ra biển nữa. Về đá đít lũ bò cho đỡ tức vậy. Cát dưới chân chúng tôi réo lên từng chuỗi, nghe như tiếng khóc từ biển khơi vọng về. Cũng có thể là tiếng khóc trong lòng mỗi đứa trẻ chúng tôi.

Trở về với đàn bò nhưng hình ảnh hòn đảo xa lúc ẩn lúc hiện vẫn ám ảnh tâm trí. Nhìn những mảnh tơ màu trắng theo gió từ phương bắc bay về mà lòng đứa nào cũng cồn cào sóng. Hồi đó, trên những triền đồi vùng duyên hải quê tôi thường có từng đàn tơ trắng bay rợp trời, chẳng hiểu từ đâu tới. Lũ trẻ con kháo nhau rằng tơ đó do Trung Quốc thả xuống để gây sâu bọ phá hoại mùa màng. Bọn này thâm thật, phải đánh cho chúng một trận tơi bời mới được.

Phải đánh, tôi nói với ba như thế vào buổi tối. Ba thở dài. Đời ông nếm mùi bom đạn đã nhiều. Mười bốn tuổi đánh Pháp. Một quãng đời trai trẻ của ông chìm trong bom đạn Mỹ. Vừa thoát ra, ba lại tiễn anh tôi lên biên giới phía bắc. Chiến tranh và chiến tranh. Nụ cười chiến thắng chỉ vừa kịp loé lên thì bóng tối khói lửa lại ập vào trong lòng mắt ông. Cuộc đời ông như lịch sử dân tộc. Chiến tranh và chiến tranh. Ngay cả giờ này, khi nơi đây bình yên thì ở những phần khác của cơ thể người mẹ Việt súng đạn vẫn nổ ầm trời. Từng người con Việt đang ngã xuống. Máu hòa đỏ biển xanh. Ba tôi biết sự khốc liệt của chiến tranh. Còn tôi thì háo hức được ra trận.

"Trường Sa của chúng ta phải không ba?"

"Ừ."

"Còn Hoàng Sa?"

"Cũng thế."

"Bộ đội đánh nhau để giữ đảo à?"

"Đó là hai quần đảo của chúng ta. Phải giữ chứ."

Đài lại vang lên bản tin. Trường Sa bão lửa. Tàu chìm. Bộ đội hy sinh. Hậu phương tiếp sức. Lên án quân thù. Vân vân và vân vân. Tiếng súng đã vang trên vùng trời biên giới. Bài hát hừng hực lửa từ gần 10 năm qua, giờ vang lên sau rặng tre thanh bình.

Rồi những ngày nóng bỏng cũng trôi qua. Cuộc chiến nơi đảo xa lùi dần vào quá khứ. Một phần biển đảo rơi vào tay kẻ thù, những cơ thể người lính dập dềnh trên sóng nước trôi vào hư vô. Lũ trẻ chúng tôi nhanh chóng quên hình ảnh hòn đảo xa mờ và trận đánh bị bỏ lỡ. Còn người lớn dường như cũng quên rằng kẻ thù phương bắc đã cướp mất một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc.

Một năm sau ngày biển động, lũ trẻ háo hức đón tin vui từ nước Trung Hoa kẻ thù. Ở quảng trường Thiên An Môn nào đó, học sinh, sinh viên và nhiều nhà lãnh đạo cấp tiến đã tập trung biểu tình chống nhà cầm quyền Bắc Kinh. Hàng ngàn, hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn. Một ngày, một tuần, rồi một tháng. Làn sóng biểu tình cứ cuồn cuộn dâng. Lũ trẻ mừng khấp khởi. Vậy là kẻ thù đã bị báo ứng, bị đánh từ ngay trong cơ thể chúng.

Thế nhưng, một cách nhanh chóng chúng tôi nhận ra mình đã sai. Qua đài phát thanh và qua người lớn, lũ trẻ con biết rằng tham gia cuộc biểu tình, bạo loạn thì đúng hơn, là những kẻ hư đốn đã bị Mỹ đầu độc, đã ăn tiền nước Mỹ để chống lại đất nước Trung Hoa. Nước Trung Hoa anh em. Sông liền sông, núi liền núi. Nước Trung Hoa của Mao Trạch Đông vĩ đại. Nước Trung Hoa của ô tô Giải Phóng, xe đạp Phượng Hoàng. Chống lại nước Trung Hoa vĩ đại, những kẻ bạo loạn đó chắn chắn phải nhận kết cục bi thảm. Và ngày chúng tôi mong đợi đã tới. Một buổi tối đầu tháng sáu, đài phát thanh loan tin quân đội Trung Quốc đã trực chỉ Thiên An Môn. Từng đoàn xe tăng, đại bác tràn vào, súng nổ. Chính phủ nước Trung Hoa vĩ đại tuyên bố sẽ nghiền nát bất cứ kẻ bạo loạn nào, những kẻ thù của dân tộc. Chúng tôi mừng vui khôn xiết. Người anh Trung Hoa thật vĩ đại. Họ đã hành động mạnh mẽ, bất chấp áp lực của đế quốc Mỹ và các nước bợ đít Mỹ bên trời Tây. Thật đáng đời cho những kẻ biểu tình, bọn ăn tiền Mỹ, làm tay sai Mỹ, những kẻ bị nhiễm tư tưởng thực dụng, tư bản hoặc đã bị sập bẫy "diễn biến hòa bình". Thật là hả hê. Hành động mạnh mẽ, đầy khí thế của nước Trung Hoa vĩ đại là tấm gương sáng. Lũ trẻ chúng tôi thầm mơ rằng một ngày nào đó đất nước này cũng có hành động tương tự đối với những kẻ bạo loạn, ngông cuồng.

Giữa hàng loạt biến động cuối thập niên 80, chúng tôi xót xa nhìn Liên Xô và nhiều nước Xã hội Chủ nghĩa châu Âu đổi hướng. Ba Lan. Tiệp Khắc. Hungary. Bulgaria hoa hồng. Đắng cay nhưng tự hào vì nước ta, người anh Trung Hoa vĩ đại, đất nước của Chủ tịch Kim Nhật Thành và hòn đảo hình cá trê của Fidel Castro phía bên kia trái đất vẫn kiên định. Trường thành Xã hội Chủ nghĩa vẫn vững chắc, với sự chở che của người anh cả Trung Hoa.

Trong niềm vui khôn tả đó, chúng tôi lao vào cuộc chiến vùng Vịnh với sự hứng khởi mới. Hồi đó, một đơn vị bộ đội công binh về đóng gần làng đã mang theo ánh sáng của ti vi đen trắng về. Những ngày Iraq tấn công thần tốc vào Kuwait cũng là những ngày mà lũ trẻ lười học chúng tôi háo hức đến trường hơn. Đến để khoe rằng mình biết rất nhiều chuyện chiến sự. Nào là máy bay Mỹ oanh tạc đất nước Iraq xa xôi. Nào là nhân dân của người anh hùng Saddam Huissen bủa lưới lửa vào kẻ thù xâm lược. Tổng thống Bush độc ác. Cả thế giới căm phẫn. Biểu tình khắp nơi. Thế giới chống Mỹ rần trời. Chống Mỹ là ủng hộ Việt Nam. Niềm tin giản đơn của lũ trẻ là thế.

Mãi mê với những niềm vui mới, chúng tôi hầu như đã quên hẳn chuyện Hoàng Sa và Trường Sa. Đôi lúc nhớ lại hỏi ba, ba bảo rằng các chú bộ đội vẫn giữ đảo. Hai quần đảo đó là của ta. Mãi mãi. Cuộc chiến đã lùi xa. Bài "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới" không ai hát nữa. Đài cũng không phát luôn. Đôi lúc nhớ lại lời bài hát, đứa trẻ bắt đầu lớn trong tôi lại tập tành suy nghĩ. Đâu là quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh? Đâu là người anh Trung Hoa vĩ đại? Đâu là đồng chí? Đâu là kẻ thù? Ba tôi bảo: Kẻ thù ấy lại là người bạn ấy. Bài thơ Tố Hữu viết về anh Ba (Duẩn) có một câu như thế. Tôi tin vậy. Kẻ thù rồi bạn. Giờ hết thù, là bạn, có sao đâu! Cũng giống như mới hôm qua thôi, Mikhail Gorbachov còn là vị tổng tư lệnh của phe xã hội chủ nghĩa thì hôm nay ông ta đã trở thành kẻ thù của Việt Nam, kẻ phá hoại lý tưởng cộng sản.

Tư tưởng thông suốt, tôi thấy mình lớn lên.

Thập niên 90 là một khoảng thời gian đầy sự kiện. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Bầu cử ở Mỹ. Chiến sự ở Iraq. Rồi chiến tranh Balkans. Lũ trẻ mới lớn chúng tôi háo hức đón những tin tức nóng hổi từ khắp nơi trên thế giới bay về theo Đài tiếng nói và Đài truyền hình Việt Nam. Đôi khi cả Đài Moskva và Đài Bắc Kinh nữa. Đài phản động BBC thì không thèm nghe.

Thời gian trôi vô tình. Lũ trẻ chúng tôi lớn tự bao giờ chẳng hay. Trung học. Đại học. Rồi lao vào đời với một sự tự tin cao độ. Nhưng trong lúc niềm tin dâng lên mãnh liệt nhất cũng là lúc tôi bắt đầu hoang mang.

Cuộc sống giữa Sài Gòn tưởng chỉ có cắm đầu vào kiếm tiền là ổn, nhưng không. Có nhiều lúc sau một ngày dài mệt mỏi, tôi chợt nhận ra những lỗ hổng lớn trong tôi. Đó cũng là lúc mà những chuỗi câu hỏi tại sao đến với tôi dồn dập.

Tại sao tôi có thể nói vanh vách về tư tưởng Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh trong lúc không biết gì về Adam Smith, Friedrich Hegel, về Immanuel Kant? Hoặc có biết cũng toàn là chuyện tiêu cực.

Tại sao tôi có thể thuộc hàng chục bài thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu mà lại ngẩn tò te khi cậu bạn Sài Gòn nói về Mai Thảo, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền? Thậm chí khi đã vác trên vai tấm bằng cử nhân ngữ văn, tôi cũng không hề hay rằng nền văn học Việt Nam trong quá khứ gần còn có Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt... Ngay cả Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng... thì tôi (chính xác hơn là thế hệ của tôi) cũng chỉ biết một góc rất nhỏ trong sự nghiệp và cuộc đời của họ mà thôi.

Tại sao trong lúc tham nhũng đang tàn phá đất nước, chúng tôi không được học (dẫu chỉ thuộc lòng) "Chống tham ô lãng phí" của Phùng Quán?

Tại sao những con người tài hoa và đầy chí khí như Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng... trong một thời gian dài lại chìm vào bóng tối?

Tại sao quân đội ta trong chiến đấu chỉ có chiến thắng và "rút quân để bảo toàn lực lượng" chứ không thua bao giờ?

Cải cách ruộng đất là gì? Nhân văn - Giai phẩm là gì? Xét lại chống đảng là gì? Có hay không màn long tranh hổ đấu giữa những nhà lãnh đạo mà tôi hằng kính phục?

Càng cố trả lời những câu hỏi này tôi càng lạc vào những mê cung mới. Tôi hoang mang thực sự. Đôi lúc thấy mình như phản lại chính mình. Bên kia chiến tuyến là tôi. Bên này cũng là tôi. Hai thằng tôi khác nhau nhưng giống nhau như đúc đang đối đầu với nhau.

Và trong cuộc đối đầu đó, tôi dần tìm ra những mảng mờ tối của thế giới xung quanh. Tôi biết tới một câu chuyện hoàn toàn khác về vụ đàn áp Thiên An Môn. Tôi còn biết rằng trước và sau thời điểm chúng tôi leo lên đồi cát để ngắm nhìn hòn đảo mờ xa, hàng trăm ngàn đồng bào đã vượt biển, vượt biên rời tổ quốc.

Tôi cũng biết hơn về cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979.

Rồi hàng loạt thần tượng tuổi thơ sụp đổ khi tôi bắt gặp những câu chuyện khác về lãnh tụ kiệt xuất Joseph Stalin, về Kim Nhật Thành, Kim Jong-il... Người anh hùng tuổi thơ của tôi, Saddam Hussein, lên giá treo cổ. Người anh hùng khi tôi mới lớn, Slobodan Milosevic, chết thảm trong tù.

Lãnh tụ Kim Jong-il vẫn béo múp giữa một đất nước còn nhiều khổ đau.

Và tôi không tin, không thể tin được khi thằng bạn làm hướng dẫn viên du lịch thông báo với tôi về phát hiện mới của nó: Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm từ mấy chục năm nay rồi. Thác Bản Giốc cũng mới bay sang bên kia một nửa.

Tôi choáng váng. Nhưng sự thực là thế. Thì ra khi lũ trẻ chúng tôi tìm bắt chuồn chuồn trên đồi cát đầy nắng ấy để mong bơi ra được Hoàng Sa, Trường Sa đánh nhau với giặc Tàu thì Hoàng Sa đã mất, Trường Sa cũng đang mất dần từng mảng. Hoàng Sa mất trước khi tôi có mặt trên trái đất này. Nhưng chúng tôi không có quyền được biết điều đó. Ba tôi cũng không khá hơn. Ông vẫn tin rằng hai quần đảo giữa biển khơi đầy sóng gió kia vẫn còn trong tay ta.

Và rất nhanh, tôi biết rằng ba và tôi không phải là ngoại lệ. Cả gia đình tôi, cả làng tôi, cả xã tôi và một phần lớn người dân ở đất nước này không được biết tới những điều như thế. Họ không có quyền biết. Họ chỉ có thể sống với những điều họ được phép biết tới mà thôi. Một mảng lớn về số phận đất nước vẫn là điều tuyệt mật đối với tôi, với cha tôi và với họ.

Chúng tôi được giáo dục về lòng yêu nước, về niềm kiêu hãnh dân tộc, nhưng chúng tôi không được quyền biết quá nhiều về tổ quốc, về quá khứ, hiện tại và tương lai của đất mẹ.

Chúng tôi được biết "Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam" nhưng không có quyền được biết nhiều hơn thế, về quá khứ, hiện tại và tương lai của hai chùm đảo này.

Cũng như khi nhìn ra biển cả trong một ngày đầy nắng trên đồi cát trắng mênh mông thuở tuổi thơ chân đất, lũ trẻ chúng tôi chỉ được nhìn tới đó và chỉ có thể nhìn tới đó, nơi có hòn đảo xa mờ ẩn hiện giữa làn hơi nước. Sau này tôi mới biết đó là đảo Cồn Cỏ, hòn đảo chưa đầy bốn cây số vuông nằm cách bờ khoảng ba mươi hải lý. Chúng tôi chỉ có thể nhìn tới Cồn Cỏ, không thể xa hơn, không thể tới Hoàng Sa, Trường Sa giữa đại dương bao la.

Trong những ngày sục sôi này, tôi càng nhận thấy điều đó rất rõ, khi bắt gặp quá nhiều bạn trẻ không hiểu về lịch sử dân tộc, về Hoàng Sa, Trường Sa, về chiến tranh biên giới và hiệp định biên giới. Họ không có cơ hội để biết. Họ không có quyền được biết.

Với họ, hai chùm đảo ngoài khơi, một phần máu thịt trên cơ thể người mẹ Việt, vẫn bị bao bọc giữa một làn sương mù dày đặc.

16.12.07

Xuống đường vì tổ quốc

Sáng chủ nhật (16.12.2007), người dân yêu nước tại TP.Hồ Chí Minh đã xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc thôn tính Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Đây là một số hình ảnh mà tôi vừa có được.

1. Trên ngực anh là tổ quốc

2. Blogger Điếu Cày, nhân vật nổi bật nhất.

3. Một người vừa được giác ngộ (hình như là blogger Bulldog).

Đáng tiếc là người biểu tình đã không có sự chuẩn bị kỹ (chẳng hạn kô có khẩu hiệu bằng tiếng Anh nên du khách đi qua không hiểu). Thế mới có chuyện một chàng an ninh chìm giải thích với nhóm du khách Úc rằng: "Họ tập trung ở đây để chạy việt dã".

15.12.07

Xuống đường vì tổ quốc - 2

Đây là những hình ảnh từ Hà Nội. Thật là bừng bừng khí thế!!!!!!!!

12.12.07

Đảo trong sương mù...

Thuở tuổi thơ chăn bò, lũ trẻ chúng tôi thường chạy bộ hàng chục cây số qua những đồi cây lúp xúp và đụn cát cao cao để ngắm biển. Tôi còn nhớ cái lần đầu tiên trong đời bắt gặp đại dương. Biển một màu xanh thẳm, cao vút phía trước mặt khi lũ trẻ liêu xiêu vừa leo lên đỉnh đồi cát trắng. Nắng khiến cả bọn lóa mắt. Có đứa reo lên: "Rừng, sao lại là rừng?". Nhưng đó không phải rừng. Là biển. Biển xanh. Cao vút trước mặt. Sau này gặp biển thường xuyên hơn, tôi không còn thấy biển cao nữa.

Tôi còn nhớ tiếng cát biển reo lên dưới chân mình, trong lần đầu tiên ấy. Nghe thật thích. Lũ trẻ chúng tôi càng bước mạnh, tiếng cát càng reo to, như tiếng cười khích lệ vậy.

Và cũng trong cái lần đầu tiên thấy biển, từ trên đỉnh đồi cát trắng tinh, bọn chúng tôi phóng tầm mắt ra xa. Phía chân trời là những chiếc thuyền màu xám, mỏng manh như cánh bèo dập dềnh giữa đồng nước lũ. Xa hơn, tím thẫm, ẩn hiện trong làn hơi nước và ánh chói chang của nắng mai là một hòn đảo nhỏ. Có đứa hét: "Trường Sa kìa!". Đứa khác cãi: "Hoàng Sa chớ! Trường Sa trong nam cơ".

Bất phân thắng bại.

Trong tâm trí lũ trẻ chúng tôi lúc đó, hòn đảo xa kia là nơi các chú bộ đội đang đánh giặc Tàu. Đó là năm 1988. Ba năm sau cơn bão kinh hoàng thổi tung nhà cửa trong đất liền là cơn bão lửa biển khơi thổi bay sinh mạng của nhiều chiến sĩ Việt Nam cùng một vùng biển đảo tổ quốc.

Hồi đó, ngày nào đài cũng đưa tin Trường Sa. Hồi đó, lũ trẻ chúng tôi ngày nào cũng nói chuyện quốc sự. Một phần do nghe đài và một phần là bắt chước người lớn. Người lớn đầu tiên kể chuyện đánh Tàu là anh tôi.

Năm 1988, anh tôi đi bộ đội ở Quản Bạ (Hà Tuyên) mới xuất ngũ. Ba năm đánh nhau với giặc, với muỗi và với rừng thiêng nước độc trên những ngọn núi đá tai mèo vùng biên giới phía bắc, người ốm tong teo. Lâu lâu lại lên cơn co giật, phải trùm chăn thật kín và đốt bếp than để dưới gầm giường cho khỏi lạnh. Hồi đó anh thường ăn cháo trùn. Gớm chết! Nhưng mẹ cứ ép ăn, bảo trùn vào trong bụng sẽ đánh nhau với bọn sốt rét. Ăn nhiều trùn thì quân ta thắng quân địch. Khỏi sốt rét... Tôi tưởng tượng lũ trùn là bộ đội còn mấy con sốt rét kia là giặc Tàu. Chắc chắn trùn sẽ thắng.

Tôi tin điều đó tuyệt đối. Cũng như tôi tin rằng chuồn chuồn đốt vào rốn sẽ giúp bơi giỏi.

Đó là tín ngưỡng của tuổi thơ.

Còn nhớ lần đầu tiên nhìn thấy Trường Sa (hay Hoàng Sa?) từ trên đồi cát, lũ trẻ chúng tôi đã chia nhau đi tìm chuồn chuồn để cho đốt vào rốn với niềm tin rằng lũ sinh vật bé bỏng biết bay này sẽ mang chúng tôi đến đảo xa xem bộ đội ta đánh nhau với giặc Tàu. Nến cần thì nhảy vào giúp mấy chú một tay. Nhưng làm gì có chuồn chuồn trên đồi cát đầy gió và vắng bóng cây ấy. Thế là bọn tôi lỡ một trận đánh lớn trong đời.

Không có chuồn chuồn, chúng tôi không ra biển nữa. Về đá đít lũ bò cho đỡ tức vậy. Cát dưới chân chúng tôi réo lên từng chuỗi, nghe như tiếng khóc từ biển khơi vọng về. Cũng có thể là tiếng khóc trong lòng mỗi đứa trẻ chúng tôi.

Trở về với đàn bò nhưng hình ảnh hòn đảo xa lúc ẩn lúc hiện vẫn ám ảnh tâm trí. Nhìn những mảnh tơ màu trắng theo gió từ phương bắc bay về mà lòng đứa nào cũng cồn cào sóng. Hồi đó, trên những triền đồi vùng duyên hải quê tôi thường có từng đàn tơ trắng bay rợp trời, chẳng hiểu từ đâu tới. Bọn trẻ con kháo nhau rằng tơ đó do Trung Quốc thả xuống để gây sâu bọ phá hoại mùa màng. Bọn này thâm thật, phải đánh cho chúng một trận tơi bời mới được.

Phải đánh, tôi nói với ba như thế vào buổi tối. Ba thở dài. Đời ông nếm mùi bom đạn đã nhiều. Mười bốn tuổi đánh nhau với Pháp. Sau đó, một quãng đời thanh xuân của ông chìm trong bom đạn Mỹ. Vừa thoát ra, ba lại tiễn anh tôi lên biên giới phía bắc. Chiến tranh và chiến tranh. Nụ cười chiến thắng chỉ vừa kịp loé lên thì bóng tối khói lửa lại ập vào trong lòng mắt ông. Cuộc đời ông cũng như lịch sử dân tộc. Chiến tranh và chiến tranh. Ngay cả giờ này, khi nơi đây bình yên thì ở những phần khác của cơ thể người mẹ Việt súng đạn vẫn nổ ầm trời. Từng người con Việt đang ngã xuống. Máu hòa đỏ biển xanh. Ba tôi biết sự khốc liệt của chiến tranh. Còn tôi thì háo hức được ra trận.

"Trường Sa của chúng ta phải không ba?"

"Ừ."

"Còn Hoàng Sa?"

"Cũng thế."

"Bộ đội đánh nhau để giữ đảo à?"

"Đó là hai quần đảo của chúng ta. Phải đánh để giữ chứ."

Đài lại vang lên bản tin. Trường Sa bão lửa. Tàu chìm. Chiến sĩ hy sinh. Hậu phương tiếp sức. Lên án quân thù. Vân vân và vân vân. Tiếng súng đã vang trên vùng trời biên giới. Bài hát hừng hực lửa từ gần 10 năm qua, giờ vang lên sau rặng tre thanh bình.

Rồi những ngày nóng bỏng cũng trôi qua. Cuộc chiến nơi đảo xa lùi dần vào quá khứ. Một phần biển đảo rơi vào tay kẻ thù, những cơ thể người lính dập dềnh trên sóng nước trôi vào hư vô. Lũ trẻ chúng tôi nhanh chóng quên hình ảnh hòn đảo xa mờ và trận đánh bị bỏ lỡ. Còn người lớn dường như cũng nhanh chóng quên rằng kẻ thù phương bắc đã cướp mất một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc.

Một năm sau ngày biển động, lũ trẻ háo hức đón tin vui từ nước Trung Hoa kẻ thù. Ở quảng trường Thiên An Môn nào đó, học sinh, sinh viên và nhiều nhà lãnh đạo cấp tiến đã tập trung biểu tình chống chính phủ Bắc Kinh. Hàng ngàn, hàng chục ngàn, trăm ngàn. Một ngày, một tuần, rồi một tháng. Làn sóng biểu tình cứ cuồn cuộn dâng. Lũ trẻ chúng tôi mừng khấp khởi. Vậy là kẻ thù đã bị báo ứng. Thế nhưng, một cách nhanh chóng chúng tôi nhận ra mình đã sai. Qua đài phát thanh và qua người lớn, lũ trẻ con biết rằng tham gia cuộc biểu tình, bạo loạn thì đúng hơn, là những kẻ hư đốn, những kẻ đã bị Mỹ đầu độc, đã ăn tiền nước Mỹ để chống lại đất nước Trung Hoa. Nước Trung Hoa anh em. Sông liền sông, núi liền núi. Nước Trung Hoa của Bác Mao vĩ đại. Nước Trung Hoa của ô tô Giải Phóng, xe đạp Phượng Hoàng. Chống lại nước Trung Hoa vĩ đại, những kẻ bạo loạn đó chắn chắn phải nhận kết cục bi thảm. Và ngày chúng tôi mong đợi đã đến. Một buổi tối đầu tháng sáu, đài phát thanh báo tin quân đội Trung Quốc đã trực chỉ Thiên An Môn. Từng đoàn xe tăng, đại bác tràn vào, súng nổ. Chính phủ nước Trung Hoa vĩ đại tuyên bố sẽ nghiền nát bất cứ kẻ bạo loạn nào, những kẻ thù của dân tộc. Chúng tôi mừng vui khôn xiết. Người anh Trung Hoa thật vĩ đại. Họ đã hành động mạnh mẽ, bất chấp áp lực của đế quốc Mỹ và các nước bợ đít Mỹ bên trời Tây. Thật đáng đời cho những kẻ biểu tình, những kẻ ăn tiền Mỹ, bị nhiễm tư tưởng thực dụng, tư bản hoặc đã bị sập bẫy "diễn biến hòa bình". Thật là hả hê. Hành động mạnh mẽ, đầy khí thế của nước Trung Hoa vĩ đại là tấm gương sáng. Lũ trẻ chúng tôi thầm mơ rằng một ngày nào đó, đất nước này cũng có hành động tương tự đối với những kẻ bạo loạn, ngông cuồng.

Giữa hàng loạt biến động cuối thập kỷ 80, chúng tôi xót xa nhìn Liên Xô và nhiều nước Xã hội Chủ nghĩa châu Âu đổi hướng. Ba Lan. Tiệp Khắc. Hungary. Bulgaria hoa hồng. Đắng cay nhưng tự hào vì nước ta, người anh Trung Hoa vĩ đại, đất nước của Chủ tịch Kim Nhật Thành và hòn đảo hình cá trê của Fidel Castro phía bên kia trái đất vẫn kiên định. Trường thành Xã hội Chủ nghĩa vẫn vững chắc, với sự chở che của người anh cả Trung Hoa.

Trong niềm vui khôn tả đó, chúng tôi lao vào cuộc chiến vùng Vịnh với sự hứng khởi mới. Hồi đó, một đơn vị bộ đội công binh về đóng gần làng đã mang theo ánh sáng của ti vi đen trắng về. Những ngày Iraq tấn công thần tốc vào Kuwait cũng là những ngày mà lũ trẻ lười học chúng tôi háo hức đến trường hơn. Đến để khoe rằng mình biết rất nhiều chuyện chiến sự. Nào là máy bay Mỹ oanh tạc đất nước Iraq xa xôi. Nào là nhân dân của người anh hùng Saddam Huissen bủa lưới lửa vào kẻ thù xâm lược. Tổng thống Bush độc ác. Cả thế giới căm phẫn. Biểu tình khắp nơi. Thế giới đang chống Mỹ rần trời. Chống Mỹ là ủng hộ Việt Nam. Niềm tin giản đơn của lũ trẻ là thế.

Mãi mê với những niềm vui mới, chúng tôi hầu như đã quên hẳn chuyện Hoàng Sa và Trường Sa. Đôi lúc nhớ lại hỏi ba, ba bảo rằng các chú bộ đội vẫn giữ đảo. Hai quần đảo đó là của ta. Mãi mãi. Cuộc chiến đã lùi xa. Bài "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới" không ai hát nữa. Đài cũng không phát luôn. Đôi lúc nhớ lại lời bài hát, đứa trẻ bắt đầu lớn trong tôi lại tập tành suy nghĩ. Đâu là quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh? Đâu là người anh Trung Hoa vĩ đại? Đâu là đồng chí? Đâu là kẻ thù? Ba tôi bảo: Kẻ thù ấy lại là người bạn ấy. Bài thơ Tố Hữu viết về anh Ba (Duẩn) đã nói điều đó. Tôi tin vậy. Kẻ thù ấy cũng là người bạn ấy. Giờ hết thù, là bạn, có sao đâu! Cũng giống như mới hôm qua thôi, Mikhail Gorbachov còn là vị tổng tư lệnh của phe xã hội chủ nghĩa thì hôm nay ông ta đã trở thành kẻ thù của Việt Nam, kẻ phá hoại lý tưởng cộng sản. Tư tưởng thông suốt, tôi thấy mình lớn lên.

Thập niên 90 là một khoảng thời gian đầy biến động. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Bầu cử ở Mỹ. Chiến sự tiếp diễn ở Iraq. Rồi chiến tranh Balkans. Lũ trẻ vừa lớn chúng tôi háo hức đón những tin tức nóng hổi từ khắp nơi trên thế giới bay về theo Đài tiếng nói và Đài truyền hình Việt Nam. Đôi khi cả Đài Moskva và Đài Bắc Kinh nữa. Đài phản động BBC là điều cấm kỵ.

Thời gian trôi vô tình. Lũ trẻ chúng tôi lớn tự bao giờ chẳng hay. Trung học. Đại học. Rồi lao vào đời với một sự tự tin cao độ. Nhưng trong lúc niềm tin dâng lên mãnh liệt nhất cũng là lúc mà tôi bắt đầu hoang mang.

Cuộc sống giữa Sài Gòn tưởng chỉ có cắm đầu vào kiếm tiền là ổn, nhưng không. Có nhiều lúc sau một ngày dài mệt mỏi, tôi chợt nhận ra những lỗ hổng lớn trong tôi. Đó cũng là lúc mà những chuỗi câu hỏi tại sao đến với tôi dồn dập.

Tại sao tôi có thể nói vanh vách về tư tưởng Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh trong lúc không biết chút gì về về Friedrich Hegel, về Immanuel Kant? Hoặc có biết cũng toàn là mặt tiêu cực. Tại sao tôi có thể thuộc hàng chục bài thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu mà lại ngẩn tò te khi cậu bạn Sài Gòn nói về Mai Thảo, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền? Thậm chí khi đã vác trên vai tấm bằng cử nhân ngữ văn, tôi cũng không hề hay rằng nền văn học Việt Nam trong quá khứ gần còn có Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt... Ngay cả Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng... thì tôi (chính xác hơn là thế hệ của tôi) cũng chỉ biết một góc rất nhỏ trong sự nghiệp và cuộc đời của họ.

Tại sao trong lúc tham nhũng đang tàn phá đất nước, chúng tôi không được học (dẫu chỉ thuộc lòng) "Chống tham ô lãng phí" của Phùng Quán?

Tại sao những con người tài hoa và đầy chí khí như Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng... trong một thời gian dài lại chìm vào bóng tối?

Tại sao quân đội ta trong chiến đấu chỉ có chiến thắng và "rút quân để bảo toàn lực lượng" chứ không thua bao giờ? Tại sao quân đội ta không có kẻ hèn?

Cải cách ruộng đất là gì? Nhân văn - Giai phẩm là gì? Xét lại chống đảng là gì? Có hay không màn long tranh hổ đấu giữa những nhà lãnh đạo mà tôi hằng kính phục?

Càng cố trả lời những câu hỏi này tôi càng lạc vào những mê cung mới. Tôi hoang mang thực sự. Đôi lúc tôi thấy mình như phản lại chính mình. Bên kia chiến tuyến là tôi. Bên này cũng là tôi. Hai thằng tôi khác nhau nhưng giống nhau như đúc đang đối đầu với nhau.

Và trong cuộc đối đầu đó, tôi dần tìm ra những mảng mờ tối của thế giới xung quanh. Tôi biết tới một câu chuyện hoàn toàn khác về vụ đàn áp Thiên An Môn. Tôi còn biết rằng trước và sau thời điểm chúng tôi leo lên đồi cát để ngắm nhìn hòn đảo mờ xa, hàng trăm ngàn đồng bào đã vượt biển, vượt biên rời tổ quốc. Tôi biết hơn về cuộc chiến biên giới phía bắc năm 1979.

Rồi những tượng đài tuổi thơ sụp đổ. Tôi biết những câu chuyện khác về lãnh tụ kiệt xuất Joseph Stalin, về Kim Nhật Thành, Kim Jong-il. Người anh hùng tuổi thơ của tôi, Saddam Hussein, lên giá treo cổ. Người anh hùng khi tôi mới lớn, Slobodan Milosevic, chết thảm trong tù. Lãnh tụ Kim Jong-il vẫn mập mạp giữa một đất nước còn nhiều khổ đau.

Và tôi không tin, không thể tin được khi thằng bạn làm hướng dẫn viên du lịch thông báo với tôi về phát hiện mới của nó: Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm từ mấy chục năm nay rồi. Thác Bản Giốc cũng mới bay sang bên kia một nửa. Tôi sững sờ. Nhưng sự thực là thế. Tôi choáng váng. Thì ra khi lũ trẻ chúng tôi tìm bắt chuồn chuồn trên đồi cát đầy nắng ấy để mong bơi ra được Hoàng Sa, Trường Sa đánh nhau với giặc Tàu thì Hoàng Sa đã mất, Trường Sa cũng mất dần từng mảng. Hoàng Sa mất trước khi tôi có mặt trên trái đất này. Nhưng chúng tôi không có quyền được biết điều đó. Ba tôi cũng không khá hơn. Ông vẫn tin rằng hai quần đảo giữa biển khơi đầy sóng gió kia vẫn còn đó.

Và cũng rất nhanh, tôi biết rằng ba và tôi không phải là trường hợp ngoại lệ. Cả gia đình tôi, cả làng tôi, cả xã tôi và một phần rất lớn người dân ở đất nước này không được biết tới những điều như thế. Họ không có quyền biết. Họ chỉ có thể sống với những điều họ được phép biết tới mà thôi. Một mảng lớn về số phận đất nước này vẫn là điều tuyệt mật đối với tôi, với cha tôi và với họ.

Chúng tôi được giáo dục về lòng yêu nước, về niềm kiêu hãnh dân tộc, nhưng chúng tôi không được quyền biết quá nhiều về tổ quốc, về quá khứ, hiện tại và tương lai của mảnh đất này.

Chúng tôi được biết "Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam" nhưng không có quyền được biết nhiều hơn thế, về quá khứ, hiện tại và tương lai của hai quần đảo này.

Cũng như khi nhìn ra biển cả, trong một ngày đầy nắng trên đồi cát trắng mênh mông thuở tuổi thơ chân đất, lũ trẻ chúng tôi chỉ được phép nhìn tới đó và chỉ có thể nhìn tới đó, nơi có hòn đảo xa mờ ẩn hiện giữa làn hơi nước. Sau này tôi mới biết đó là đảo Cồn Cỏ, hòn đảo chưa đầy bốn cây số vuông nằm cách bờ khoảng ba mươi hải lý. Chúng tôi không được phép nhìn xa hơn, tới Hoàng Sa, Trường Sa giữa đại dương bao la.

Trong những ngày sục sôi này, tôi càng nhận thấy điều đó rõ hơn, khi có nhiều bạn trẻ không hiểu chút gì về lịch sử dân tộc, về Hoàng Sa, Trường Sa. Họ không có cơ hội để biết. Họ không có quyền được biết. Với họ, hai chùm đảo đó, một phần máu thịt trên cơ thể người mẹ Việt, vẫn bị bao bọc giữa một làn sương mù dày đặc.