-
Thuở tuổi thơ chăn bò, lũ trẻ chúng tôi thường chạy bộ hàng chục cây số qua những đồi cây lúp xúp và đụn cát cao cao để ngắm biển. Tôi còn nhớ cái lần đầu tiên trong đời bắt gặp đại dương. Biển một màu xanh thẳm, cao vút phía trước mặt khi lũ trẻ liêu xiêu vừa leo lên đỉnh đồi cát trắng. Nắng khiến cả bọn lóa mắt. Có đứa reo lên: "Rừng, sao lại là rừng?". Nhưng đó không phải rừng. Là biển. Biển xanh. Cao vút trước mặt. Sau này gặp biển thường xuyên hơn, tôi không còn thấy biển cao nữa.
Tôi còn nhớ tiếng cát biển reo lên dưới chân mình, trong lần đầu tiên ấy. Nghe thật thích. Lũ trẻ chúng tôi càng bước mạnh, tiếng cát càng reo to, như tiếng cười khích lệ vậy.
Và cũng trong cái lần đầu tiên thấy biển, từ trên đỉnh đồi cát trắng tinh, bọn chúng tôi phóng tầm mắt ra xa. Phía chân trời là những chiếc thuyền màu xám, mỏng manh như cánh bèo dập dềnh giữa đồng nước lũ. Xa hơn, tím thẫm, ẩn hiện trong làn hơi nước và ánh chói chang của nắng mai là một hòn đảo nhỏ. Có đứa hét: "Trường Sa kìa!". Đứa khác cãi: "Hoàng Sa chớ! Trường Sa trong nam cơ".
Bất phân thắng bại.
Trong tâm trí lũ trẻ chúng tôi lúc đó, hòn đảo xa kia là nơi các chú bộ đội đang đánh giặc Tàu. Đó là năm 1988. Ba năm sau cơn bão kinh hoàng thổi tung nhà cửa trong đất liền là cơn bão lửa biển khơi thổi bay sinh mạng của nhiều chiến sĩ Việt Nam cùng một vùng biển đảo tổ quốc.
Hồi đó, ngày nào đài cũng đưa tin Trường Sa. Hồi đó, lũ trẻ chúng tôi ngày nào cũng nói chuyện quốc sự. Một phần do nghe đài và một phần là bắt chước người lớn. Người lớn đầu tiên kể chuyện đánh Tàu là anh tôi.
Năm 1988, anh tôi đi bộ đội ở Quản Bạ (Hà Tuyên) mới xuất ngũ. Ba năm đánh nhau với giặc, với muỗi và với rừng thiêng nước độc trên những ngọn núi đá tai mèo vùng biên giới phía bắc, người ốm tong teo. Lâu lâu lại lên cơn co giật, phải trùm chăn thật kín và đốt bếp than để dưới gầm giường cho khỏi lạnh. Hồi đó anh thường ăn cháo trùn. Gớm chết! Nhưng mẹ cứ ép ăn, bảo trùn vào trong bụng sẽ đánh nhau với bọn sốt rét. Ăn nhiều trùn thì quân ta thắng quân địch. Khỏi sốt rét... Tôi tưởng tượng lũ trùn là bộ đội còn mấy con sốt rét kia là giặc Tàu. Chắc chắn trùn sẽ thắng.
Tôi tin điều đó tuyệt đối. Cũng như tôi tin rằng chuồn chuồn đốt vào rốn sẽ giúp bơi giỏi.
Đó là tín ngưỡng của tuổi thơ.
Còn nhớ lần đầu tiên nhìn thấy Trường Sa (hay Hoàng Sa?) từ trên đồi cát, lũ trẻ chúng tôi đã chia nhau đi tìm chuồn chuồn để cho đốt vào rốn với niềm tin rằng lũ sinh vật bé bỏng biết bay này sẽ mang chúng tôi đến đảo xa xem bộ đội ta đánh nhau với giặc Tàu. Nến cần thì nhảy vào giúp mấy chú một tay. Nhưng làm gì có chuồn chuồn trên đồi cát đầy gió và vắng bóng cây ấy. Thế là bọn tôi lỡ một trận đánh lớn trong đời.
Không có chuồn chuồn, chúng tôi không ra biển nữa. Về đá đít lũ bò cho đỡ tức vậy. Cát dưới chân chúng tôi réo lên từng chuỗi, nghe như tiếng khóc từ biển khơi vọng về. Cũng có thể là tiếng khóc trong lòng mỗi đứa trẻ chúng tôi.
Trở về với đàn bò nhưng hình ảnh hòn đảo xa lúc ẩn lúc hiện vẫn ám ảnh tâm trí. Nhìn những mảnh tơ màu trắng theo gió từ phương bắc bay về mà lòng đứa nào cũng cồn cào sóng. Hồi đó, trên những triền đồi vùng duyên hải quê tôi thường có từng đàn tơ trắng bay rợp trời, chẳng hiểu từ đâu tới. Bọn trẻ con kháo nhau rằng tơ đó do Trung Quốc thả xuống để gây sâu bọ phá hoại mùa màng. Bọn này thâm thật, phải đánh cho chúng một trận tơi bời mới được.
Phải đánh, tôi nói với ba như thế vào buổi tối. Ba thở dài. Đời ông nếm mùi bom đạn đã nhiều. Mười bốn tuổi đánh nhau với Pháp. Sau đó, một quãng đời thanh xuân của ông chìm trong bom đạn Mỹ. Vừa thoát ra, ba lại tiễn anh tôi lên biên giới phía bắc. Chiến tranh và chiến tranh. Nụ cười chiến thắng chỉ vừa kịp loé lên thì bóng tối khói lửa lại ập vào trong lòng mắt ông. Cuộc đời ông cũng như lịch sử dân tộc. Chiến tranh và chiến tranh. Ngay cả giờ này, khi nơi đây bình yên thì ở những phần khác của cơ thể người mẹ Việt súng đạn vẫn nổ ầm trời. Từng người con Việt đang ngã xuống. Máu hòa đỏ biển xanh. Ba tôi biết sự khốc liệt của chiến tranh. Còn tôi thì háo hức được ra trận.
"Trường Sa của chúng ta phải không ba?"
"Ừ."
"Còn Hoàng Sa?"
"Cũng thế."
"Bộ đội đánh nhau để giữ đảo à?"
"Đó là hai quần đảo của chúng ta. Phải đánh để giữ chứ."
Đài lại vang lên bản tin. Trường Sa bão lửa. Tàu chìm. Chiến sĩ hy sinh. Hậu phương tiếp sức. Lên án quân thù. Vân vân và vân vân. Tiếng súng đã vang trên vùng trời biên giới. Bài hát hừng hực lửa từ gần 10 năm qua, giờ vang lên sau rặng tre thanh bình.
Rồi những ngày nóng bỏng cũng trôi qua. Cuộc chiến nơi đảo xa lùi dần vào quá khứ. Một phần biển đảo rơi vào tay kẻ thù, những cơ thể người lính dập dềnh trên sóng nước trôi vào hư vô. Lũ trẻ chúng tôi nhanh chóng quên hình ảnh hòn đảo xa mờ và trận đánh bị bỏ lỡ. Còn người lớn dường như cũng nhanh chóng quên rằng kẻ thù phương bắc đã cướp mất một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của tổ quốc.
Một năm sau ngày biển động, lũ trẻ háo hức đón tin vui từ nước Trung Hoa kẻ thù. Ở quảng trường Thiên An Môn nào đó, học sinh, sinh viên và nhiều nhà lãnh đạo cấp tiến đã tập trung biểu tình chống chính phủ Bắc Kinh. Hàng ngàn, hàng chục ngàn, trăm ngàn. Một ngày, một tuần, rồi một tháng. Làn sóng biểu tình cứ cuồn cuộn dâng. Lũ trẻ chúng tôi mừng khấp khởi. Vậy là kẻ thù đã bị báo ứng. Thế nhưng, một cách nhanh chóng chúng tôi nhận ra mình đã sai. Qua đài phát thanh và qua người lớn, lũ trẻ con biết rằng tham gia cuộc biểu tình, bạo loạn thì đúng hơn, là những kẻ hư đốn, những kẻ đã bị Mỹ đầu độc, đã ăn tiền nước Mỹ để chống lại đất nước Trung Hoa. Nước Trung Hoa anh em. Sông liền sông, núi liền núi. Nước Trung Hoa của Bác Mao vĩ đại. Nước Trung Hoa của ô tô Giải Phóng, xe đạp Phượng Hoàng. Chống lại nước Trung Hoa vĩ đại, những kẻ bạo loạn đó chắn chắn phải nhận kết cục bi thảm. Và ngày chúng tôi mong đợi đã đến. Một buổi tối đầu tháng sáu, đài phát thanh báo tin quân đội Trung Quốc đã trực chỉ Thiên An Môn. Từng đoàn xe tăng, đại bác tràn vào, súng nổ. Chính phủ nước Trung Hoa vĩ đại tuyên bố sẽ nghiền nát bất cứ kẻ bạo loạn nào, những kẻ thù của dân tộc. Chúng tôi mừng vui khôn xiết. Người anh Trung Hoa thật vĩ đại. Họ đã hành động mạnh mẽ, bất chấp áp lực của đế quốc Mỹ và các nước bợ đít Mỹ bên trời Tây. Thật đáng đời cho những kẻ biểu tình, những kẻ ăn tiền Mỹ, bị nhiễm tư tưởng thực dụng, tư bản hoặc đã bị sập bẫy "diễn biến hòa bình". Thật là hả hê. Hành động mạnh mẽ, đầy khí thế của nước Trung Hoa vĩ đại là tấm gương sáng. Lũ trẻ chúng tôi thầm mơ rằng một ngày nào đó, đất nước này cũng có hành động tương tự đối với những kẻ bạo loạn, ngông cuồng.
Giữa hàng loạt biến động cuối thập kỷ 80, chúng tôi xót xa nhìn Liên Xô và nhiều nước Xã hội Chủ nghĩa châu Âu đổi hướng. Ba Lan. Tiệp Khắc. Hungary. Bulgaria hoa hồng. Đắng cay nhưng tự hào vì nước ta, người anh Trung Hoa vĩ đại, đất nước của Chủ tịch Kim Nhật Thành và hòn đảo hình cá trê của Fidel Castro phía bên kia trái đất vẫn kiên định. Trường thành Xã hội Chủ nghĩa vẫn vững chắc, với sự chở che của người anh cả Trung Hoa.
Trong niềm vui khôn tả đó, chúng tôi lao vào cuộc chiến vùng Vịnh với sự hứng khởi mới. Hồi đó, một đơn vị bộ đội công binh về đóng gần làng đã mang theo ánh sáng của ti vi đen trắng về. Những ngày Iraq tấn công thần tốc vào Kuwait cũng là những ngày mà lũ trẻ lười học chúng tôi háo hức đến trường hơn. Đến để khoe rằng mình biết rất nhiều chuyện chiến sự. Nào là máy bay Mỹ oanh tạc đất nước Iraq xa xôi. Nào là nhân dân của người anh hùng Saddam Huissen bủa lưới lửa vào kẻ thù xâm lược. Tổng thống Bush độc ác. Cả thế giới căm phẫn. Biểu tình khắp nơi. Thế giới đang chống Mỹ rần trời. Chống Mỹ là ủng hộ Việt Nam. Niềm tin giản đơn của lũ trẻ là thế.
Mãi mê với những niềm vui mới, chúng tôi hầu như đã quên hẳn chuyện Hoàng Sa và Trường Sa. Đôi lúc nhớ lại hỏi ba, ba bảo rằng các chú bộ đội vẫn giữ đảo. Hai quần đảo đó là của ta. Mãi mãi. Cuộc chiến đã lùi xa. Bài "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới" không ai hát nữa. Đài cũng không phát luôn. Đôi lúc nhớ lại lời bài hát, đứa trẻ bắt đầu lớn trong tôi lại tập tành suy nghĩ. Đâu là quân xâm lược bành trướng Bắc Kinh? Đâu là người anh Trung Hoa vĩ đại? Đâu là đồng chí? Đâu là kẻ thù? Ba tôi bảo: Kẻ thù ấy lại là người bạn ấy. Bài thơ Tố Hữu viết về anh Ba (Duẩn) đã nói điều đó. Tôi tin vậy. Kẻ thù ấy cũng là người bạn ấy. Giờ hết thù, là bạn, có sao đâu! Cũng giống như mới hôm qua thôi, Mikhail Gorbachov còn là vị tổng tư lệnh của phe xã hội chủ nghĩa thì hôm nay ông ta đã trở thành kẻ thù của Việt Nam, kẻ phá hoại lý tưởng cộng sản. Tư tưởng thông suốt, tôi thấy mình lớn lên.
Thập niên 90 là một khoảng thời gian đầy biến động. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Bầu cử ở Mỹ. Chiến sự tiếp diễn ở Iraq. Rồi chiến tranh Balkans. Lũ trẻ vừa lớn chúng tôi háo hức đón những tin tức nóng hổi từ khắp nơi trên thế giới bay về theo Đài tiếng nói và Đài truyền hình Việt Nam. Đôi khi cả Đài Moskva và Đài Bắc Kinh nữa. Đài phản động BBC là điều cấm kỵ.
Thời gian trôi vô tình. Lũ trẻ chúng tôi lớn tự bao giờ chẳng hay. Trung học. Đại học. Rồi lao vào đời với một sự tự tin cao độ. Nhưng trong lúc niềm tin dâng lên mãnh liệt nhất cũng là lúc mà tôi bắt đầu hoang mang.
Cuộc sống giữa Sài Gòn tưởng chỉ có cắm đầu vào kiếm tiền là ổn, nhưng không. Có nhiều lúc sau một ngày dài mệt mỏi, tôi chợt nhận ra những lỗ hổng lớn trong tôi. Đó cũng là lúc mà những chuỗi câu hỏi tại sao đến với tôi dồn dập.
Tại sao tôi có thể nói vanh vách về tư tưởng Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh trong lúc không biết chút gì về về Friedrich Hegel, về Immanuel Kant? Hoặc có biết cũng toàn là mặt tiêu cực. Tại sao tôi có thể thuộc hàng chục bài thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu mà lại ngẩn tò te khi cậu bạn Sài Gòn nói về Mai Thảo, Nhã Ca, Thanh Tâm Tuyền? Thậm chí khi đã vác trên vai tấm bằng cử nhân ngữ văn, tôi cũng không hề hay rằng nền văn học Việt Nam trong quá khứ gần còn có Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt... Ngay cả Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng... thì tôi (chính xác hơn là thế hệ của tôi) cũng chỉ biết một góc rất nhỏ trong sự nghiệp và cuộc đời của họ.
Tại sao trong lúc tham nhũng đang tàn phá đất nước, chúng tôi không được học (dẫu chỉ thuộc lòng) "Chống tham ô lãng phí" của Phùng Quán?
Tại sao những con người tài hoa và đầy chí khí như Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm, Quang Dũng... trong một thời gian dài lại chìm vào bóng tối?
Tại sao quân đội ta trong chiến đấu chỉ có chiến thắng và "rút quân để bảo toàn lực lượng" chứ không thua bao giờ? Tại sao quân đội ta không có kẻ hèn?
Cải cách ruộng đất là gì? Nhân văn - Giai phẩm là gì? Xét lại chống đảng là gì? Có hay không màn long tranh hổ đấu giữa những nhà lãnh đạo mà tôi hằng kính phục?
Càng cố trả lời những câu hỏi này tôi càng lạc vào những mê cung mới. Tôi hoang mang thực sự. Đôi lúc tôi thấy mình như phản lại chính mình. Bên kia chiến tuyến là tôi. Bên này cũng là tôi. Hai thằng tôi khác nhau nhưng giống nhau như đúc đang đối đầu với nhau.
Và trong cuộc đối đầu đó, tôi dần tìm ra những mảng mờ tối của thế giới xung quanh. Tôi biết tới một câu chuyện hoàn toàn khác về vụ đàn áp Thiên An Môn. Tôi còn biết rằng trước và sau thời điểm chúng tôi leo lên đồi cát để ngắm nhìn hòn đảo mờ xa, hàng trăm ngàn đồng bào đã vượt biển, vượt biên rời tổ quốc. Tôi biết hơn về cuộc chiến biên giới phía bắc năm 1979.
Rồi những tượng đài tuổi thơ sụp đổ. Tôi biết những câu chuyện khác về lãnh tụ kiệt xuất Joseph Stalin, về Kim Nhật Thành, Kim Jong-il. Người anh hùng tuổi thơ của tôi, Saddam Hussein, lên giá treo cổ. Người anh hùng khi tôi mới lớn, Slobodan Milosevic, chết thảm trong tù. Lãnh tụ Kim Jong-il vẫn mập mạp giữa một đất nước còn nhiều khổ đau.
Và tôi không tin, không thể tin được khi thằng bạn làm hướng dẫn viên du lịch thông báo với tôi về phát hiện mới của nó: Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm từ mấy chục năm nay rồi. Thác Bản Giốc cũng mới bay sang bên kia một nửa. Tôi sững sờ. Nhưng sự thực là thế. Tôi choáng váng. Thì ra khi lũ trẻ chúng tôi tìm bắt chuồn chuồn trên đồi cát đầy nắng ấy để mong bơi ra được Hoàng Sa, Trường Sa đánh nhau với giặc Tàu thì Hoàng Sa đã mất, Trường Sa cũng mất dần từng mảng. Hoàng Sa mất trước khi tôi có mặt trên trái đất này. Nhưng chúng tôi không có quyền được biết điều đó. Ba tôi cũng không khá hơn. Ông vẫn tin rằng hai quần đảo giữa biển khơi đầy sóng gió kia vẫn còn đó.
Và cũng rất nhanh, tôi biết rằng ba và tôi không phải là trường hợp ngoại lệ. Cả gia đình tôi, cả làng tôi, cả xã tôi và một phần rất lớn người dân ở đất nước này không được biết tới những điều như thế. Họ không có quyền biết. Họ chỉ có thể sống với những điều họ được phép biết tới mà thôi. Một mảng lớn về số phận đất nước này vẫn là điều tuyệt mật đối với tôi, với cha tôi và với họ.
Chúng tôi được giáo dục về lòng yêu nước, về niềm kiêu hãnh dân tộc, nhưng chúng tôi không được quyền biết quá nhiều về tổ quốc, về quá khứ, hiện tại và tương lai của mảnh đất này.
Chúng tôi được biết "Hoàng Sa - Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam" nhưng không có quyền được biết nhiều hơn thế, về quá khứ, hiện tại và tương lai của hai quần đảo này.
Cũng như khi nhìn ra biển cả, trong một ngày đầy nắng trên đồi cát trắng mênh mông thuở tuổi thơ chân đất, lũ trẻ chúng tôi chỉ được phép nhìn tới đó và chỉ có thể nhìn tới đó, nơi có hòn đảo xa mờ ẩn hiện giữa làn hơi nước. Sau này tôi mới biết đó là đảo Cồn Cỏ, hòn đảo chưa đầy bốn cây số vuông nằm cách bờ khoảng ba mươi hải lý. Chúng tôi không được phép nhìn xa hơn, tới Hoàng Sa, Trường Sa giữa đại dương bao la.
Trong những ngày sục sôi này, tôi càng nhận thấy điều đó rõ hơn, khi có nhiều bạn trẻ không hiểu chút gì về lịch sử dân tộc, về Hoàng Sa, Trường Sa. Họ không có cơ hội để biết. Họ không có quyền được biết. Với họ, hai chùm đảo đó, một phần máu thịt trên cơ thể người mẹ Việt, vẫn bị bao bọc giữa một làn sương mù dày đặc.
12.12.07
Đảo trong sương mù...
| Phản ứng: |
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
Giờ đây chúng ta lại đứng trước một ngã rẽ mới, một trận chiến mới. Người bạn cũ nay dần trở thành kẻ thù mới. Chúng ta lại bình thản đón chờ nó.
ReplyDelete