22.12.06

Entry for December 22, 2006

Thất nghiệp

Em bố trí lịch tim tuần một buổi
Ca đôi tình thất nghiệp hỏi sáu ngày


Lê Đạt

20.12.06

Entry for December 21, 2006

Đào Thái Tôn
Dấu chấm buồn cho Hội nghị Lý luận phê bình ở Đồ Sơn
Văn Chinh thực hiện
Việc mạt sát nhau trên văn đàn bấy lâu là có thật. Trước thềm Hội nghị Lý luận phê bình ở Đồ Sơn là cuộc “cãi nhau” giữa Trịnh Thanh Sơn và Nguyễn Hoà đã được “bầy” mà cứ bằng vào ngôn ngữ của họ trên Văn nghệ Trẻ, thì một ông “trông gà hoá cuốc” còn một ông là “nhà phê bình đao búa”. Nhưng, đó chưa phải là cái đáng buồn nhất trong đời sống văn nghệ gần đây...

*

Thưa ông Đào Thái Tôn, Hà Nội mấy hôm nay đi đâu cũng nghe bàn tán về cuộc đánh nhau theo nghĩa đen giữa ông và nhà văn Bùi Bình Thi trên đường từ Hội nghị Lý luận phê bình ở Đồ Sơn về?

Đánh nhau thì không phải. Ông thấy đấy, từ thuở thanh niên đến tráng niên, có mấy khi cái thân tôi được 49 cân thịt (đã “trừ bì”), nên tôi có dám đánh nhau với ai đâu.

Đúng thế. Mà Bùi Bình Thi cao lớn, nặng có đến 1 tạ, sao có thể bị một người 50 cân hạ nốc ao?

Chả tạ thì cũng ngót. Nhưng vấn đề không phải là ở thịt.

Như vậy có vẻ như chuyện đồn là có thật?

Tôi rất tiếc về chuyện này. Nhưng cũng mừng. Tiếc vì nếu ai không hiểu nguồn cơn thì thấy nó lố bịch quá. Ngay người trong giới cầm bút với nhau cũng sẽ cười chê. Ai lại “đánh nhau” như thế! Tiếc thật. Nhưng thế tất phải xảy ra như thế.

Dẫu sao thì chuyện xẩy ra cũng đã xẩy ra. Chi bằng ông hãy tường thuật lại sự việc. Xin bắt đầu bằng việc tại sao ông lại nói không phải là đánh nhau?

Là vì không có sự đánh nhau theo cái nghĩa là tôi có sự chuẩn bị cho việc đáng xấu hổ đó mà do ông Thi khiêu khích vô cớ, dồn tôi đến việc vì danh dự mà phải ra đòn, tức là “phê bình bằng vũ lực”. Duyên do là, vào hồi 2 giờ chiều 5/10, các đại biểu dự Hội nghị Đồ Sơn ra xe về Hà Nội. Ban tổ chức bảo: ai đi xe nào thì về xe ấy để dễ điểm quân số. Lượt đi, tôi ngồi hàng đầu, ghế phụ của xe 16 chỗ, lần đầu tiên biết mặt và ngồi cạnh nhà văn Trần Thị Trường. Thì về, ngồi đúng vị trí ấy. Tôi đứng chờ mọi người điền vào hết các ghế phụ phía sau để đỡ phải nhấp nhổm đứng lên ngồi xuống lấy lối đi. Mọi người đang lục tục lên xe, bỗng có tiếng thét rất to: “Xê ra, xê ra”! Tôi nhận ra giọng ông Bùi Bình Thi, nên chẳng quay ra, chỉ thủng thẳng: Nhà văn ăn nói cho nhẹ nhàng. “Cho nhờ một tí” chẳng hạn. Chẳng dè Bùi Bình Thi xông ngay lên, chẳng nói chẳng rằng, “chơi” tôi luôn một cú, ngã ngay.

Thưa ông, Bùi Bình Thi có thể nói ông ta chỉ ẩy nhẹ, nhưng vì ông thấp bé nhẹ cân quá, nên ngã?

Bây giờ ông Thi muốn nói sao mặc ông ấy. Nhưng thanh minh là tự thú. Sao không dưng lại “ẩy” người ta; người ta vừa loạng choạng đứng lên lại tiếp tục “ẩy” ngã? Hành xử kiểu gì vậy? Vậy thì nói thế này nhé: ông Thi dùng nắm đấm mà… “ẩy” vậy! Khi tôi nhẫn nhịn đứng lên, ông Thi chơi cú thứ ba. Tôi chỉ loạng choạng. “Tái tam ba bận”. Máu dồn lên. Nóng mặt rồi. Giọt nước đã tràn ly. Tôi quay hướng về mọi người trên xe, nghiêm chỉnh: Thưa các anh các chị. Vừa rồi các anh các chị đã thấy Bùi Bình Thi cư xử với tôi thế nào. Bây giờ tôi xin phép dạy cho “nó” một bài học. Nói dứt lời, tôi thoắt quay lại, mang hết sức bình sinh thoi vào giữa mặt anh ta một cú để rửa nhục trước mọi người. Dĩ nhiên được hưởng một cú trời giáng hết sức bất ngờ như thế thì đến voi cũng đổ. Ông Thi vừa loạng quạng đứng dậy, tôi thoi tiếp một quả nữa. Lại đổ. Đến đoạn vật xấp ông xuống thì mọi người mới định thần, vội kéo hai người “đánh nhau” ra mỗi ngả…

Trong các bữa ăn tại Hội nghị có uống loại bia Hà Nội đóng chai không?

Có, như lệ thường. Nhưng có lẽ ông định khai thác cái chi tiết tiểu thuyết là trong cái cuộc ấy, cái túi của ông Thi lòi ra 5 chai bia Hà Nội chứ gì? Thú thật, tôi không hề biết. Đang nóng mắt, để tâm sao được chi tiết ấy…

Thật ê chề và não ruột cho giới nhà văn chúng ta. Hẳn trong Hội nghị hai ông có lời qua tiếng lại?

Tịnh không. Ông Hữu Thỉnh hỏi tôi có đăng ký phát biểu không, tôi trả lời rằng chỉ khi nào ông Mai Quốc Liên phát thanh minh hay rêu rao rằng tôi đang phải hầu toà (do ông ấy đạo diễn nên vụ án này để làm mờ chuyện đạo văn thì tôi mới lên tiếng). Chứ ông Thi thì có quan hệ gì với tôi đâu.

Hay hai ông có hiềm khích từ trước?

Cũng không. Tôi và Bùi Bình Thi chỉ biết nhau chứ đã bao giờ là bạn bè đâu. Nhưng có người bảo tôi rằng Mai Quốc Liên vừa cho Bùi Bình Thi tái hồi cái “chức” Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, là muốn dùng cái ông to đùng to đoàng này để “trị” tôi. Tôi hơi lạ. Tôi “đánh nhau” với ông Liên là “đánh nhau” bằng con chữ để chỉ ra cái mẹo đạo văn, chứ có phải vật nhau đâu mà phải dùng người to con. Nhưng không ngờ ông Thi lại hăng hái thực hiện hợp đồng, tâng công vượt mức thô bạo đến thế.

Vừa nãy, ông nói chuyện này vừa đáng tiếc, vừa đáng mừng là lý cố làm sao?

Là chuyện đạo văn của ông Mai Quốc Liên tôi nêu trên Văn nghệ Trẻ từ ngày 20/11/2005 ấy mà. Người ta cứ cố bưng bít chuyện này để vun vén cho ông cái Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Nhưng vài chục năm qua, ông Liên chỉ làm đầu nậu sách chứ có nghiên cứu được công trình gì đâu mà bảo trao Giải thưởng? Như ông đã biết, tôi đã nêu 7 vấn đề (kèm 20 chứng cứ) kiến nghị Hội đồng xét giải thưởng loại ông Mai Quốc Liên khỏi Giải. Vấn đề tham nhũng trong đó là rõ. Từ khi chui vào cái ô của Hội Nhà văn (1/6/2002) đến hết năm 2005, ông ấy chỉ mua giấy phép in được 26 đầu sách (Có giá bán. Có lãi rồi), thế mà lại rút được 3.550.000.000 (hơn ba tỉ rưỡi) của nhà nước, bảo là chi cho “sự nghiệp khoa học công nghệ” thì ai tin? Nếu tính đến nay, thì có thể nói là năm, bảy tỉ chứ không dừng lại ở hơn ba tỉ rưỡi đâu. Tôi đố ông Liên giải ngân được món tiền này. Ban Kiểm tra Hội Nhà văn thì bảo với tôi rằng ông ấy giải trình đầy đủ cả rồi. Nhưng tôi xin bản giải ngân việc tiêu hơn ba tỉ rưỡi ấy, thì nhất định không cho. Thế là thế nào?

Thưa ông, vấn đề đạo văn thì ít nhiều đã có dư luận của bạn đọc, xung quanh cuộc tranh luận của ông và ông Mai Quốc Liên về tác quyền bản dịch cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du; chứ còn vụ tham nhũng, thì chúng tôi rất bất ngờ. Ông có sẵn sàng chịu trách nhiệm trước các cơ quan hữu trách không, vì rằng vấn đề đã trở thành nghiêm trọng?

Tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về việc phát giác sự tham nhũng và về bài trả lời phỏng vấn này, vì tôi có tài liệu khá chính xác. Tiền có đồng, cá có con. Hợp thức việc tiêu bạc tỉ thì dễ. Nhưng hợp pháp thì… gay đấy. Tôi mong cơ quan điều tra vào cuộc.

Xin cảm ơn ông.

(Phó giáo sư - tiến sĩ Đào Thái Tôn hiện làm việc tại Viện Hán Nôm, Hà Nội)

© 2006 talawas

Về lại đời thường sao khó thế!


Nguyễn Khoa Điềm
Bây giờ là lúc

Bây giờ là lúc có thể chia tay với điện thoại để bàn, các vi-dít, nắm đấm mi-crô
Tự do lên mạng với đời sống, ăn ngủ với bụi đường
Một mình một ba-lô và xe đạp
Bây giờ gió gọi anh đi
Mặt trời đánh nhịp về tám hướng
Từ giã cà-vạt, giày đen, lời trịnh trọng
Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ
Hò hát một mình, đọc những gì yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép
Thế giới thật rộng, những ngả đường độ lượng
Cho anh làm mới cuộc đời mình
Anh gọi đó là chuyến về không hạn định
Để là một người trong mọi người
Anh tham dự trận tấn công cuối cùng
Vào cái chết

Hãy lộn ngược da anh
Và ghi lên đó mật khẩu:
- Không lùi bước!"

(Báo Văn Nghệ ngày 5-8-2006)

Lời bình của Nguyễn Vũ Tiềm

Một bài thơ đọc lên gợi ra nhiều cảm nhận và suy nghĩ về nhiều lẽ là một bài thơ đạt tới một thành công nhất định. Bài thơ "Bây giờ là lúc" của Nguyễn Khoa Điềm trong trường hợp như thế. Bài thơ được in cách đây 3 tháng. Trong thời gian không nhiều nhưng tôi được nghe nhiều ý kiến, chủ yếu là khen bài thơ này. Tôi cũng nhận thấy bài thơ có một số ưu điểm, tác giả dùng nhiều hình ảnh, từ ngữ giản dị, thậm chí cả tiếng lóng đường phố tổ chức thành những cụm kết hợp từ khá nhuần nhuyễn tạo nên sự mới lạ cho bài thơ:

Anh là một với cánh đồng, cánh hẩu với quán cóc, ăn chịu với cỏ

Hoặc những câu hàm súc, gợi nhiều liên tưởng sâu xa:

... những ngả đường độ lượng
Cho anh làm mới cuộc đời mình

Nhưng ưu điểm lớn nhất là sự chân thực trong bài thơ này. Từ đây, tôi muốn nêu lên một số cảm nhận và suy nghĩ ở cái lẽ khác.

Chúng ta từng được chứng kiến nhiều cán bộ lãnh đạo phổ biến hay giảng giải, người nghe, không khó khăn lắm, nhận ra một số điều vị cán bộ ấy không dám nói thật lòng mình. Chỉ khi thôi chức vụ, anh mới sống thực sự "là mình" hơn.

Vậy không biết từ khi nào nhỉ, người cán bộ lãnh đạo với thường dân lại có khoảng cách xa nhau đến thế? Một đằng thì:

Cà-vạt, giày đen, lời trịnh trọng

Một đằng thì:

Khi là cây mác, cây chông
Khi là biển cả, khi không là gì

("Thường dân" - Nguyễn Long)

Là cán bộ lãnh đạo thì không được “tự do lên mạng sao”? Không thể “một mình một ba-lô và xe đạp” để đi đây đi đó gặp gỡ bè bạn sao?

Là cán bộ lãnh đạo thì không có điều kiện “làm mới cuộc đời mình” sao? Không làm mới mình được, thì làm sao lãnh đạo dân tiến hành “công cuộc đổi mới đất nước”? Khi là cán bộ lãnh đạo thì anh không thể “là một người trong mọi người”, mà phải chờ đến khi hưu trí rồi anh mới có điều kiện hoà mình được với quần chúng sao? Để lãnh đạo quần chúng, anh cứ phải đứng tách ra một khoảng cách, đứng cao hơn mọi người mới được sao?

Có lẽ bạn bảo tôi là sao lúc này mà còn làm cái việc “suy diễn chụp mũ”? Xin thưa, bây giờ không giống như hồi xưa, chụp mũ, quy kết để rồi “kiểm điểm, treo bút” tác giả được nữa. Mà chính là bài thơ gợi cho tôi nhìn rõ hơn thực trạng cán bộ lãnh đạo của chúng ta hiện nay phần nào mắc những thói tật như thế thật. Đúng là anh Điềm ngồi ở vị trí cao hơn nên anh nhìn rõ hơn chúng tôi và anh mới viết được hay như thế. Quả thật, hãy thử nhìn xem đội ngũ cán bộ của chúng ta hiện nay, đã bao nhiêu cán bộ sử dụng được vi tính và vào mạng? Không vào mạng hàng ngày thì làm sao anh cập nhật được thông tin? Anh lạc hậu hơn quần chúng thì anh nói ai nghe? Anh lãnh đạo sao được? Bạn hãy quan sát mà xem, có đúng là khi các vị đã được bầu vào vị trí này nọ, đã ngồi vào chiếc xe hơi sang trọng rồi, thì có khi nào các vị đi xe máy hay xe đạp, đeo ba lô trên lưng như mọi người xung quanh nữa hay không? Nhiều vị còn dùng xe cơ quan đưa cả vợ con đi việc riêng cơ mà! Bạn hãy để ý xem, có đúng là các vị quan chức “cà vạt, giày đen” (hoặc màu khác), nói “lời trịnh trọng” tại các hội nghị thì hầu hết toàn là những lời sáo rỗng chung chung mà ai cũng biết từ lâu cả rồi hay không? Đã thế họ lại rất thích mở hội nghị tổng kết, mừng công, đón huân chương, bằng khen, ăn uống triền miên, phong bì quà cáp… Những việc ấy có mang lại hiệu quả gì hay không? Hay chỉ ngoạm vào công quỹ, những đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân đóng góp? Làm cán bộ lãnh đạo như thế thì bận thật, làm gì còn thời gian mà “đọc những gì yêu thích, ghi chép những gì cần ghi chép”! Chính ví quan liêu xa rời quần chúng như thế, tệ tham nhũng ở nước ta mới trở thành quốc nạn như hiện nay mà mọi người đang phải khó khăn vất vả tẩy trừ nó đi. Tôi rất phục anh Điềm đã thẳng thắn nói ra những điều đó một cách ý nhị kín đáo nhưng cũng đủ để người đọc liên tưởng ra…

Thần thái của bài thơ thường được gửi gắm ở khúc kết:

Hãy lộn ngược da anh
Và ghi lên đó mật khẩu:
- Không lùi bước!

Đọc đến khúc kết này, tôi bị bất ngờ ngạc nhiên quá. Ở phần trên, hình ảnh từ ngữ bình thường giản dị bao nhiêu thì khúc kết lại cầu kì kiểu cách bấy nhiêu. Ở trên gần gũi bao nhiêu thì ở dưới lại xa lạ bấy nhiêu. Ở trên hiền lành bao nhiêu thì ở dưới dữ dằn quyết liệt bấy nhiêu. Ta với ta cả thôi mà, làm gì phải "lộn ngược da". Ghê quá! Rùng rợn quá! Ta với ta, có gì cứ nói thẳng ra có được không, cần gì phải dùng đến "mật khẩu"! Thì vẫn biết tính chiến đấu của nhà thơ là rất cao, "không lùi bước!", nhưng kết thúc bài thơ bằng cách hô khẩu hiệu như thế có cần thiết không?

Quả thật, đang ở vị trí cao sang "lời trịnh trọng", phải trở về với cuộc sống đời thường "không là gì" giống như những thường dân khác, cũng đâu có thoải mái dễ dàng!

Nguồn: Tạp chí Trí Tuệ số 10, ra tại TP Hồ Chí Minh tháng 12.2006, mục Diễn đàn "Ta là ai?" (Hay chúng ta khám phá chúng ta) trang 30-31.

Thơ Phùng Quán

Hoa Sen

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

*
Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền
Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen.
Nhưng tôi không thể nào tin được
Câu ca này gốc gác tự nhân dân.
Bởi câu ca sặc mùi phản trắc
Của những phường bội nghĩa vong ân !
*
Vốn con cái của giai cấp cùng khổ
Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến mẹ cha chúng xấu hổ
Chúng mưu toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần, chúng mượn chuyện sen
…. Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

Tất cả là trong cái chữ "gần"
Chỉ một chữ mà ta thấu gan thấu ruột
Những manh tâm bội nghĩa vong ân.
*
Bùn với sen đâu phải chuyện gần ?
Chính là sen mọc lên từ trong đó
Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh …
Tất cả, tất cả, tất cả !…
Là do bùn hôi nuôi dưỡng
Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng
Cũng là xương thịt của bùn tanh !
Như nhân dân
Gian truân, thầm lặng, vô danh
Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ …
*
Nhân danh bùn
Nhân danh sen
Tôi đề nghị :
Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian !

Phùng Quán

14.12.06

Entry for December 15, 2006

.user posted image

Lý Tự Trọng - Đà Nẵng

user posted image

Entry for December 14, 2006

.Imageuser posted image

Bác Hùng nói với bác Thanh
Việt Nam chỉ có Đà thành là vui

user posted image

user posted image

user posted image

13.12.06

Entry for December 13, 2006




Đôi mắt Pleiku Biển Hồ đầy, ngày 10.12.2006.

Entry for December 13, 2006




Trước giờ hóa thân.


Image...

7.12.06

Entry for December 08, 2006




Sri Lanka, những ngày đau thương.

6.12.06

Entry for December 07, 2006




jjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjjj

Entry for December 06, 2006




Khoảnh khắc yên lặng của chiến tranh.

5.12.06

Entry for December 05, 2006




Lần đầu tiên tôi ý thức được sự có mặt của mình trên cõi đời này là lúc tôi ở trong bệnh viện. Thậm chí tôi không còn nhớ cái giường bệnh mà tôi đã ngồi ngày đó hình dạng như thế nào, màu gì. Tôi chỉ nhớ rằng, khi nhìn qua ô cửa sổ, tôi đã thấy một chiếc xe chạy ngang qua, trên con đường phía trước mặt. Hai bên đường có những hàng cây xanh ngắt, hình như là tre, cũng có thể là dương liễu. Trong trí nhớ vốn đã bị bụi thời gian che phủ, tôi mường tượng ra được đó là một con đường đất đỏ nhỏ xíu, lác đác sỏi và lưa thưa cát. Tôi còn nhớ người ngồi trên xe mặc áo trắng, hoặc một chiếc áo đã bạc màu, còn có đội mũ hay không thì não bộ non nớt của tôi không hề lưu lại.


Đó là lần đầu tiên tôi ý thức được sự hiện diện của mình trong cuộc đời. Sau này, khi lớn lên, tôi mới biết rằng ngày đó tôi phải vào bệnh viện sau một cơn cảm mạo thông thường. Chỉ cảm mạo thôi mà suýt nữa tôi phải chia tay vĩnh viễn cuộc đời này. Ba tôi kể thế. Tôi được đưa tới bệnh viện trong đêm tối. Ba tôi đã cõng tôi chạy 5 cây số liền, từ nhà về trung tâm thị trấn. Mẹ và các anh chị tôi chạy theo sau. Tôi sốt khá cao và gần như ngất đi, một phần do đói, một phần do giun sán hành hạ và một phần do cảm. Ở bệnh viện, người ta truyền thuốc cho tôi. Người ta nói phải cho tôi hồi sức trước đã. Ba tôi kể thế. Họ cắm ống truyền vào tay tôi và đi đâu mất. Ba tôi ngồi bên cạnh, không ngủ. Đã nữa đêm rồi. Hồi đó và cả đến bây giờ, người dân quê tôi rất sợ bác sĩ, công an. Ba tôi cũng thế. Dù từng lăn lộn nhiều nơi, từng thản nhiên đối mặt với B-52, cannon, mortier, nhưng ông cũng rất ái ngại khi phải tiếp xúc với bác sĩ. Một cô y tá mới ra trường quát lên ông cũng run. Thế đấy. Trong nỗi lo lắng khôn cùng, ba tôi ngồi cạnh tôi, xem những giọt nước chảy xuống theo nhịp đập của mạch máu trong cơ thể tôi. Cứ thế, thời gian nặng nề trôi theo từng tiếng rên khe khẽ của tôi. Rồi bi kịch ập đến. Tôi đau chịu không nổi. Tôi hét lên, hét đến khản cổ và kêu ba tôi rút kim truyền ra. Người ta nói đó là tình trạng sốc thuốc. Có người đã chết vì sốc thuốc đấy. Sau này tôi được biết như vậy. Nhưng trong đêm hôm đó, trong tình huống kinh hoàng này, ba tôi chẳng biết làm gì. Xung quanh ông chẳng có một ai để có thể cầu cứu. Tôi thì cứ hét hết mình, hét đến cạn hơi, như muốn vỡ tung cả lồng ngực và cổ họng. Mãi tới gần đây tôi mới biết nỗi đau xót của một người cha khi con mình khóc nó khủng khiếp như thế nào. Thế mà hồi đó ba tôi đã phải thức gần suốt đêm để nghe tôi kêu gào. Trong cơn hoảng loạn, ba tôi chạy ra hành lang và lao đến phòng bác Thư. Đó là một bác sĩ trước ở cùng làng với gia đình tôi. Bác cũng có bà con xa với ba tôi, hình như xa lắc lơ ấy, ở quê tôi gọi là "bắn đại bác cũng khó tới". Trong cơn hoảng loạn, ba tôi đã lao vào phòng bác Thư. Chính quyết định sáng suốt này đã mang lại sự sống cho tôi, một cơ thể mong manh chưa kịp cảm nhận sự có mặt của mình trong cuộc đời.


Nhìn ánh mắt cầu cứu của ba tôi, bác Thư lao nhanh về phía phòng cấp cứu, nơi tôi đang gào thét cùng chiếc kim truyền dịch cắm sâu vào tay. Tôi lúc đó gần như đã kiệt sức. Ba tôi kể thế. Tôi gục xuống, nhưng vẫn cố hét lên, hét lên để đòi lại sự sống cho mình. Có vẻ tiếng kêu gào của tôi đã khiến thần Chết run sợ. Khi bác Thư lao vào phòng cũng là lúc thần Chết rút lui. Bác Thư run bắn lên trước cơ thể của tôi. Trong nháy mắt, bác ấy rút cây kim truyền dịch khỏi tay tôi, chúng tôi đã cùng bước qua một ranh giới mong manh như sợi tóc trong khoảnh khắc đó. "Ổn rồi... nhưng chưa ổn đâu", bác Thư nói, đại khái vậy. Rồi bác bảo ba tôi kêu bác sĩ hỗ trợ, vì bác ấy không phụ trách ca bệnh của tôi nên bác chỉ rút kim ra thôi. Việc cấp cứu cho tôi sẽ có người khác phụ trách. Đại khái là thế, bác ấy giải thích.


Sau cú sốc, rốt cuộc tôi cũng vượt qua cái đêm kinh hoàng đó. Tôi hồi phục rất nhanh, hầu như chẳng cần thuốc men gì. Ba tôi kể vậy. Sáng ra, ba tôi bế tôi ra cổng bệnh viện. Thấy những nồi cháo bốc hơi, tôi khóc đòi ăn. Lúc này ba tôi mới cười được, vì biết rằng một khi tôi đòi ăn, cũng là lúc mọi nguy hiểm đã qua. Ba tôi cười và nước mắt ông chảy ra. Tôi ngồi trên tay ba, ăn cháo ngon lành. Ba tôi kể rằng tôi tham ăn tới mức bị nghẹn mấy lần. Ngày nay, tôi cũng chỉ biết được tô cháo đó qua lời kể của ba, cả cái đêm kinh hoàng trong bệnh viện cũng vậy. Lúc tôi ăn cháo, có cô y tá đi qua. Cô ta cười trêu tôi vì biết tôi vừa trở về sau một đêm khủng khiếp.


Ăn xong một tô cháo nóng hổi, tôi thấy vẫn còn thòm thèm lắm nhưng ba tôi đã bế tôi vào. Ba bảo chút nữa mẹ tôi sẽ nấu cháo trên nhà đưa xuống cho tôi. Sau này tôi mới biết, buổi sáng đó ba tôi đã chẳng ăn được chút gì và cũng không còn tiền để cho tôi ăn tô cháo thứ hai. Khi mẹ tôi đưa cháo xuống, ba tôi cũng chỉ ăn cơm độn sắn, loại thức ăn đã theo tôi và lớp trẻ cùng trang lứa suốt một thời trẻ dại. Tôi nói cơm độn sắn mặc dầu dân quê tôi thường gọi là sắn độn cơm, vì thường thì nồi cơm có năm phần thì sắn chiếm hết bốn phần rồi. Ba tôi thường bảo, có sắn ăn là may lắm rồi, đừng chê phải tội với cha ông. "Hồi chiến tranh, dân ở đây chỉ biết đến cơm bữa diếp thôi", ba tôi nói, có ý nhấn mạnh những gì mà chúng tôi có được là quá vĩ đại rồi. "Cơm bữa diếp", khái niệm này từng trở thành một câu cửa miệng của thời chiến tranh ở quê tôi. "Bữa diếp" tức là ngày trước ngày hôm qua (the day b4 yesterday), "cơm bữa diếp" có nghĩa là bữa cơm gần nhất mà người ta được ăn đã cách đây 2 ngày rồi. Mà có được cơm bữa diếp đã là may. Sau này tôi được biết, ngay cả cơm bữa diếp cũng từng là một khái niệm xa xỉ vào thời đại mà ba tôi còn nhỏ.


Trên giường bệnh buổi sáng hôm đó, trong khi ngồi ăn cháo mẹ nấu, tôi đưa mắt nhìn qua cửa sổ và bắt gặp một chiếc xe chạy loáng qua. Đó là ký ức đầu tiên mà tôi còn lưu giữ được cho đến ngày hôm nay. Từ đó trở về trước, tôi chẳng còn nhớ được gì. Ba tôi nói ngày đó tôi mới hai tuổi. Vậy là kỷ niệm sớm nhất mà tôi tự mình ghi lại được đó là lúc tôi lên hai. Vào một buổi sáng, sau một đêm kinh hoàng, sau những thìa cháo nóng hổi, tôi đã thấy qua ô cửa sổ, một chiếc xe, một con đường, những hàng cây và một con người. Mọi thứ giờ chỉ còn lại lờ mờ trong ký ức. Lờ mờ như làn sương sớm ban mai ở quê tôi vậy.

4.12.06

Entry for December 04, 2006




Em bé Trung Đông.

Entry for December 05, 2006




Mất hết hình ảnh và dữ liệu trong laptop rồi, giờ phải vào mấy email để tìm lại hình ngày xưa. Toàn là hình đã bị resize lại nhỏ, nhưng dù sao có cũng hơn kô.


Đây là hình chụp cùng Zico Thái, ngày 3.1.2005 tại Black Yon Café ở sân bay Don Muang, ngay sau tsunami.