30.11.06

Chống Tham Ô Lãng Phí

Đọc lại bài thơ của tiền bối Phùng Quán, thấy thấm thía biết chừng nào.
Phùng Quán
Chống Tham Ô Lãng Phí

Tôi đã đi qua
Những xóm làng chiến tranh vừa chấm dứt
Tôi đã gặp
Những bà mẹ quấn giẻ rách
Da đen như củi cháy giữa rừng
Kéo dây thép gai tay máu ròng ròng
Bới đồn giặc, trồng ngô trỉa lúa...

Tôi đã đi qua
Những xóm làng vùng Kiến An, Hồng Quảng
Nước biển dâng cao ướp muối các cánh đồng
Hai mùa rồi, lúa không có một bông
Phân người toàn vỏ khoai tím đỏ;
Tôi đã gặp
Những em thơ còm cõi
Lên năm lên sáu tuổi đầu
Cơm thòm thèm độn cám và rau
Mới tháng ba đã ngóng mau ra Tết !
Để được ăn no có thịt
Một ngày...một ngày...
Tôi đã đi giữa Hà Nội
Những đêm mưa lất phất
Đường mùa đông nước nhọn tựa dao găm
Chị em công nhân đổ thùng
Run lẩy bẩy chui hầm xí tối
Vác những thùng phân...
Thuê một vạn một thùng
Mấy ai dám vác ?
Các chị suốt đêm quần quật
Sáng ngày vừa đủ nuôi con...

Một triệu bài thơ không nói hết nhọc nhằn
Của nhân dân lao động
Đang buộc bụng, thắt lưng để sống
Để dựng xây, kiến thiết nước nhà
Để yêu thương, nuôi nấng chúng ta
Vì lẽ đó
Tôi quyết tâm từ bỏ
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa
Những vần thơ trang kim vàng mã
dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi Cách Mạng !
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả !

Các đồng chí ơi
Tôi không nói quá
Về Nam Định mà xem
" Đài xem lễ " họ cao hứng dựng lên
Nửa chừng bỏ dở
Mười một triệu đồng dầm mưa giãi gió
Mồ hôi máu đỏ mốc rêu
Những con chó sói quan liêu
Nhe răng cắn rứt thịt da cách mạng !

Nghe gió mùa đông thâu đêm suốt sáng
Nhớ "Đài xem lễ " tôi xót bao nhiêu
Đất nước đêm nay không đếm hết người nghèo
Thiếu cơm thiếu áo...

Bọn tham ô, lãng phí, quan liêu
Đảng đã phê bình trên báo
Còn bao tên chưa ai biết ai hay?
Lớn, bé, nhỏ, to, cao, thấp, béo, gầy...
Chúng nảy nòi, sinh sôi như dòi bọ !
Khắp đất nước đâu đâu chẳng có !

Đến một ngày Đảng muốn phê bình tất cả
E phải nghìn số báo Nhân dân !

Tôi đã dự những phiên tòa xử tội
Những con chuột mặc áo quần bộ đội
Đục cơm khoét áo chúng ta
Ăn cắp máu dân đổi chác đồng hồ
Kim phút kim giờ lép gầy như bụng đói
Những mẹ già, em trai, em gái...
Còng lưng rỏ máu lấn vành đai !

Trung ương Đảng ơi !
Lũ chuột mặt người chưa hết.
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi !
Đi trong hàng ngũ tiên phong

29.11.06

Entry for November 30, 2006




Trong sân Olympia ở Berlin trước trận Đức - Ecuador.

28.11.06

Entry for November 29, 2006




Gặp Bora huyền thoại tại Marienplatz ở Munchen.

Entry for November 28, 2006




Đây là hình ảnh của quá khứ. Chiều tối mùng 3 Tết con gà, trên đỉnh đèo Hải Vân mù sương và rả rích mưa.


-----------------


Một ngày nữa lại nặng nề trôi, hy vọng phục hồi dữ liệu trong ổ đĩa D cũng dần vơi. Chán chết được. Bao nhiêu hình ảnh, từ hồi xem đua xe ở Thượng Hải, rồi tsunami ở Phuket, Phang Nga đến Sri Lanka, rồi mùa hè nước Đức 2006. Có lẽ tất cả đã tiêu hết rồi.


 

27.11.06

Trở lại Huế và...




Trở lại Huế

Đây là Phú và Sơn, hai thành viên của Anh K19. Huế tháng ba, trời mát dịu, quán cà phê cổ kính bên thôn Vĩ Dạ. Chợt thấy như được gặp lại những ngày xưa thân ái, dưới mái trường đại học bên dòng Hương.

-------------------------------

Tối hôm qua đi nhậu với thằng Chiến vui thật. Thằng này là dân Vĩnh Lâm, bạn học thời cấp 3. Giờ nó đi gõ đầu trẻ. Gọi một ông giáo là "nó", "thằng" nghe không ổn lắm, nhưng thôi kệ. Bạn bè câu nệ nỗi gì. Uống phê phê kể chuyện đánh căng, bắn súng nổ, chơi gụ... quá vui. Dù đang bị cảm nặng nhưng mình thấy cũng sung phết.

Không hiểu sao mình lại gọi điện cho Hoa Lưu Ly. Lúc đó đã mười giờ rưỡi rồi. Nàng đã có con, một đứa bé giống hệt nàng. Mình nghe giọng nàng ngái ngủ, chắc lúc đó nàng đang ngủ bên cạnh con và chú bộ đội. Chồng nàng là bộ đội mà. Ôi, những chú bộ đội khi nào cũng xung phong! Hồi trước, mình lan man quá, đã đánh rơi nàng, một cánh hoa lưu ly như mọi người thường gọi. Rồi một chú bộ đội đóng quân ở cạnh trường nàng. Chú ấy đã xung phong... Rồi một đứa bé chào đời. Giống hệt nàng.

Nàng vui với con, với chồng, nhưng nàng cũng thường thở dài. Không phải nuối tiếc mà là thương cho một thời vụng dại. Đó là cuộc tình không có lời tỏ tình, cũng không lời chia tay.

26.11.06

Cầy tơ bảy món




Thằng Quang "Hualon" rủ đi ăn mộc tồn mà mình không đi được. Thôi thì tặng nó chùm thơ về món ăn quốc hồn quốc túy này. Hồi ở Sri Lanka và Đức, có nhiều đêm mình thèm thịt chó không ngủ được, thế là dậy làm thơ cho đỡ ghiền.

NHỚ


Đã lâu rồi chưa về lại Cống Quỳnh (*)
Nhớ quán Thanh Xuân (**) chiều chiều khói tỏa
Nhớ đĩa dồi ta cùng ăn hối hả
Nhớ chén rượu nồng tê tái đầu môi

Đã lâu rồi em không còn cùng tôi
Ta dắt nhau hiên ngang vào quán chó
Ngồi bên em mà lòng anh sóng gió
Ôi khúc dồi thon tựa ngón tay em

Đã lâu rồi anh không thể nào quên
Trong hơi thở em có mùi thơm của sả
Trong vị ngọt môi em có hương chìa chả
Thầm hẹn ngày về hội ngộ giữa Thanh Xuân.

LUỘC

Những chiếc lá mơ lông
Ôm lấy khoanh thịt chó
Như vòng tay của nhỏ
Quàng lấy bờ vai anh

Long lanh những giọt chanh
Hòa tan trong chén mắm
Em ơi ta cùng nhắm
Cho cuộc đời thăng hoa
(*), (**) Đường Cống Quỳnh ở quận 1, TP.Hồ Chí Minh có một con hẻm quy tụ khoảng 20 quán thịt chó. Nơi đây được dân nhậu gọi nôm na là Dogtown của Sài Gòn. Quán Thanh Xuân nằm trong một góc khuất, có bà chủ dân xứ Nghệ và mấy cô giúp việc trông rất chân quê. Thanh Xuân có món nhựa mận và món dồi có lẽ là "đệ nhất" ở Dogtown Cống Quỳnh.
@ C.M.L

Entry for November 26, 2006




Không hiểu tại sao cô gái này lại chọn màu đen? Tóc đen, quần áo đen, chiếc xe đen, bờ tường và bậc tam cấp cũng xám xịt. Chỉ có khuôn mặt hồng và cuốn vở trắng là không đen. Hay thật. Hồi chụp tấm hình này ở Dòng Chúa cứu thế bên đường Nguyễn Huệ, Huế, mình không chú ý tới điều đó. Mình bấm máy chẳng qua chỉ vì hình ảnh của cô gái gợi mình nhớ về một quá khứ chưa xa. Ngày còn đi học ở xứ thần kinh, mình cùng em hay lên nhà thờ Dòng Chúa cứu thế học bài. Giáo đường, những ngày nắng mưa, tiếng dương cầm thánh thót, lời thánh ca vang xa...

Hôm nay bị cúm, nhức đầu và nghẹt mũi chịu không nổi. Cũng không dám ở gần thằng nhóc vì sợ lây cho nó. Chắc phải rủ thằng bạn đi làm vài ve cho đỡ buồn. Nhậu nhẹt đôi lúc thú thật, nhưng uống quá thì ngày mai lại bị váng đầu. Các cụ nhà ta nói cấm có sai:

Rượu tiếng rằng hay hay chả mấy

Độ dăm ba chén đã say nhè

Không biết cụ Nguyễn Khuyến ngày xưa uống bằng chén gì mà làm dăm ba chén đã say. Nếu uống ly mắt trâu (nhỏ xíu) mà say thì tửu lượng của cụ quá tệ. Nếu uống bằng chén ăn cơm thì như vậy có thể nói là khá. Nói gì thì nói, nếu tửu lượng của cụ đúng như trong hai câu thơ này thì mình có thể ngồi hầu rượu cụ được, bất kể là cụ uống bằng chén gì...

Nghe nói Y Moan bị bệnh lao phổi. Bệnh này với y học ngày nay thì người nghệ sĩ của núi rừng Tây Nguyên không thể chết được. Nhưng liệu một người có thể hát được với lá phổi đầy lỗ thủng?! Với một nghệ sĩ, hát không được cũng giống như đã chết vậy. Nói đến chuyện này mình chợt nhớ tới thiên thần Robertino Loreti. Cậu bé ấy đã nổi tiếng chỉ sau một đêm với giọng hát như tiếng sơn ca trong nắng sớm. Thế rồi, giọng hát trong trẻo đó đã bị những đổi thay của tuổi dậy thì cuốn đi... Dù vậy, những “O Sole Mio”, “Torna a Sorrento”... đến nay vẫn khiến nhiều phụ nữ rơi nước mắt.

25.11.06

Đồi bom bi




Lâu rồi không về quê, không biết những ngọn đồi trọc sau hè có còn bom bi hay không. Những quả bom bi tròn tròn và nhỏ như trái cam ấy, thường nằm lặng im trong các khóm cỏ. Lũ trẻ quê mình hồi đó chẳng có gì chơi, cũng không có tiền mua pháo, nên thích gỡ bom bi lấy thuốc về đốt trong những buổi tối cận Tết. Trời đen như mực, ánh lửa bùng lên, mùi thuốc nổ khét lẹt, từng ánh mắt trẻ thơ long lanh. Để có được niềm vui đơn sơ ấy, nhiều đứa bạn của mình đã vĩnh viễn ra đi mà không kịp đón Tết. Những trái bom bi nằm im lìm, sần sùi, trông rất hiền lành nhưng có thể nghiền nát cả một cơ thể.

Nhớ nhiều lần nghịch ngợm, mình cũng cầm bom bi ném chơi. Tuổi nhỏ, mình thấy đó như là cách để thể hiện bản lĩnh. Bạn bè thường vỗ tay sau khi mình ném. Những lúc đó mình sướng rơn người, cứ như là vừa làm xong một điều vĩ đại. Cũng may là...

Không biết ai đã sáng chế ra bom bi. Đó là một trong những loại bom khủng khiếp nhất mà mình từng thấy. Mỗi lần nổ, nó bắn ra hàng ngàn viên bi nhỏ như hạt tiêu (có lẽ lớn hơn hạt tiêu chút ít). Những viên bi đó từng cắm phập vào tim, vào óc, vào ruột, vào chân, vào mắt, vào phổi... của những đứa trẻ quê mình. Đến bây giờ mình vẫy không quên được cảm giác bàng hoàng và trống trải sau mỗi lần nghe tiếng nổ của bom bi. Không thể tả được. Hồi đó ở quê mình, người dân cày cuốc dưới đồng thường chạy lên đồi mỗi khi nghe bom bi nổ. Giữa ngọn đồi hoang vu, trước mắt họ là những cơ thể non nớt, cháy đen. Mùi thuốc nổ trộn với mùi thịt da, tóc khét lẹt... Rồi những dòng nước mắt, tiếng kêu than và những nấm mồ thơm mùi đất mới...