26.11.12

Mỹ không thừa nhận bản đồ trên hộ chiếu Trung Quốc


Dịch theo báo Times of India

Hôm nay, chính  quyền tại Mỹ tuyên bố rằng họ không thừa nhận tấm bản đồ mới "đầy tranh cãi" trên hộ chiếu Trung Quốc, trong đó có thể hiện một số vùng lãnh thổ là của họ, gây nên căng thẳng ngoại giao nghiêm trọng với Ấn Độ.

"Không, đó không phải là sự thừa nhận (chứng thực). Lập trường của chúng tôi về biển Đông, như quý vị biết, vẫn tiếp tục theo hướng những vấn đề này cần phải được đàm phán bởi các bên liên quan, giữa ASEAN và Trung Quốc, và quý vị cần biết rằng, một tấm hình trên hộ chiếu thì chẳng thể thay đổi được điều đó", phát ngôn viên Bộ Ngoại giao, bà Victoria Nuland, nói với các phóng viên trong cuộc họp báo hằng ngày.


Bà Victoria Nuland

Trả lời câu hỏi về vấn đề này, bà Nuland nói rằng bà hiểu là có những chuẩn mực quốc tế nhất định mà một hộ chiếu cần phải có.
"Quý vị biết rằng một phác thảo bản đồ không phải là một phần của điều đó (chuẩn mực quốc tế - ND)", bà nói.
"Về mặt kỹ thuật pháp lý, bản đồ đó không liên quan tới việc một hộ chiếu có đủ điều kiện để nhận thị thực hoặc được chấp nhận nhập cảnh vào Mỹ...", bà nói. (As a technical legal matter, that map doesn't have any bearing on whether the passport is valid for US visa issuance or for entry into the United States)
"Tôi không chắc là liệu chúng tôi đã có một dịp để trao đổi với người Trung Quốc. Thẳng thắn mà nói, thì lần đầu tiên một số chúng tôi biết tới chuyện này là vào dịp cuối tuần qua, khi một số nước bắt đầu từ chối mẫu hộ chiếu kia", bà nói. 
"Vì thế, ở góc độ khả năng tấm hộ chiếu này bị một số nước kia coi là hành động gây hấn, chúng tôi sẽ có cuộc trao đổi về vấn đề này, nhưng ở góc độ kỹ thuật của việc liệu hộ chiếu đó...", bà nói.
"Tôi cho rằng chúng tôi có thể sẽ có cuộc trao đổi ở khía cạnh vụ việc này (phát hành hộ chiếu - ND) bị một số nước cho rằng khó chấp nhận", bà Nuland nói.
Hết phần dịch
-------
Lời bàn: Theo lời bà Nuland, thì Mỹ không thừa nhận tính hiệu lực của tấm bản đồ trên hộ chiếu của Trung Quốc. Có nghĩa là Mỹ không cho rằng việc in tấm bản đồ đó lên hộ chiếu đồng nghĩa với việc Trung Quốc có chủ quyền trên các vùng đất, biển mà họ vẽ trên bản đồ. Tuy nhiên, vấn đề kỹ thuật của hộ chiếu - tức là hộ chiếu đó có bị cơ quan cấp thị thực và xuất nhập cảnh của Mỹ từ chối hay không - thì lại là chuyện khác. Lời bà Nuland có ý rằng người Mỹ sẽ không quan tâm tới hộ chiếu lưỡi bò hay không lưỡi bò và việc nếu họ có đóng dấu thị thực hoặc dấu nhập cảnh vào một hộ chiếu lưỡi bò thì không có nghĩa là họ thừa nhận các yêu sách về chủ quyền mà Trung Quốc thể hiện lên đó.
Một số báo Việt Nam dịch không sát, thành ra có thể gây hiểu nhầm rằng Mỹ không chấp nhận hộ chiếu đường lưỡi bò. Thực ra bà Nuland không nói Mỹ không chấp nhận hộ chiếu lưỡi bò. Bà chỉ nói nếu Mỹ có đóng dấu, dán tem lên hộ chiếu thì cũng không có nghĩa là thừa nhận hay chứng thực các bản đồ trên đó.

Cập nhật:
Ở đây có bản "xả băng" chính thức của bà Nuland. Đọc thì sẽ thấy rõ hơn.

Tạm dịch đoạn có liên quan tới Trung Quốc và hộ chiếu lưỡi bò (có lược bỏ một số từ đệm, câu rườm rà của văn nói):

Hỏi: Về Trung Quốc, có một đoạn phim mới được công bố cho thấy quân đội Trung Quốc đã đáp chiến đấu cơ thành công xuống tàu sân bay của họ. Liệu có quan ngại rằng chuyện này sẽ gây nên căng thẳng ở biển Đông, biển Hoa Đông và các vùng biển tranh chấp khác?

Bà Nuland: Chúng tôi sẽ tiếp tục dõi sát các chuyển động về quân sự của Trung Quốc. Đây là một động thái nữa nằm trong đòi hỏi thường xuyên của chúng tôi rằng Trung Quốc cần phải minh bạch ở mức cao nhất có thể về năng lực quân sự và ý định của họ, chúng tôi cũng tôi cũng thường xuyên khuyến khích Trung Quốc, vừa công khai vừa riêng tư, rằng hãy sử dụng năng lực quân sự, bao gồm cả tàu sân bay mới vào việc duy trì hòa bình và ổn định ở châu Á - Thái Bình Dương.

Hỏi: Hộ chiếu mới của Trung Quốc đã châm ngòi cho tranh cãi ngoại giao từ  khu vực láng giềng. Bởi lẽ trong hộ chiếu mới, họ có in kèm bản đồ và hình ảnh từ biển Đông, và cũng có cảnh của Đài Loan,  nên đã gây nên những lời phàn nàn từ Chính phủ Việt Nam, Philippines, Ấn Độ và Đài Loan. Tôi băn khoăn, giả sử có một công dân Trung Quốc cầm tấm hộ chiếu mới tới cổng hải quan Mỹ, và thông thường thì người đó sẽ được đóng dấu của hải quan Mỹ, như vậy liệu việc này có mang nghĩa là (Chính phủ Mỹ - ND) chứng thực yêu sách chủ quyền của Trung Quốc? (Hãy nói "phải" đi - cười).

Bà Nuland: Không. Đó không phải là sự chứng thực. Lập trường của chúng tôi về biển Đông, như quý vị biết, vẫn tiếp tục theo hướng những vấn đề này cần phải được đàm phán bởi các bên liên quan, giữa ASEAN và Trung Quốc, và quý vị cần biết rằng, một tấm hình trên hộ chiếu thì chẳng thể thay đổi được điều đó. 

Hỏi: Mặt khác, với tầm quan trọng của việc phải giải quyết cuộc khủng hoảng này, những tranh chấp này, Mỹ có thất vọng khi một COC có tính ràng buộc về biển Đông đã không thể đạt được tại cuộc Thượng đỉnh Đông Á vừa rồi?

Bà Nuland: ...Chúng tôi thấy việc các cuộc trao đổi phi chính thức đã được nối lại là đáng khích lệ. Như quý vị biết, đôi khi đối thoại thực sự không thể diễn ra. Và chúng tôi muốn sẽ có một cuộc đối thoại thực thụ, về việc sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào trong dài hạn. 

Hỏi: Trở lại chuyện tàu sân bay, liệu tiến triển có tính bước ngoặt nói trên có khuyến khích bà (Chính phủ Mỹ - ND) tiến tới việc cải thiện năng lực hải quân của các đồng minh ở châu Á?

Bà Nuland: ...Chúng tôi sẽ tiếp tục ủng hộ các đồng minh khi chúng tôi thấy cần thiết và sẽ thực hiện các bước đi thích hợp.

Hỏi: Bà có quan tâm tới những gì Trung Quốc in bên trong hộ chiếu của họ? Điều này có khiến bà quan ngại chút nào không, bởi vì đó đơn giản là chuyện của họ và họ có thể làm - họ có thể đưa bất cứ cái gì họ muốn vào hộ chiếu của họ?

Bà Nuland: ...Tôi cho rằng có những chuẩn mực quốc tế cơ bản mà chúng ta phải đáp ứng đối với một tấm hộ chiếu ở khía cạnh nó thể hiện...

Hỏi: (chen ngang) Nhưng trang trí thì liên quan gì (tới chuẩn mực quốc tế của hộ chiếu - ND).

Bà Nuland: ... và một phác thảo bản đồ thì không nằm trong điều đó (không nằm trong chuẩn mực quốc tế - ND), vì thế...  

Hỏi: Thôi được. Vậy điều đó áp dụng cho mọi quốc gia?

Bà Nuland: Đúng vậy.

Hỏi: Vậy thì, tôi muốn nói là, nếu Mexico phát hành hộ chiếu mới trong đó có bản đồ thể hiện Texas và New Mexico, điều đó là không có vấn đề gì ư?

Bà Nuland: Một lần nữa, đấy chỉ là giả thuyết mà chúng tôi không mong muốn đối mặt, anh Matt.

Hỏi: Nhưng về vấn đề này, tôi thấy chúng ta đang nói hơi bông đùa, nhưng tôi thực sự cho rằng bằng cách này hay cách khác thì chính phủ (Mỹ - ND) cũng sẽ phản đối trong vụ Mexico. Vì thế tôi muốn biết rõ ràng hay hiểu rõ rằng: Sự xuất hiện của tấm bản đồ trên hộ chiếu Trung Quốc liệu có khiến bà quan tâm hay không?

Bà Nuland: Về mặt kỹ thuật pháp lý, bản đồ đó không liên quan tới việc một hộ chiếu có đủ điều kiện để nhận thị thực hoặc được chấp nhận nhập cảnh vào Mỹ. Có những vấn đề khác...

Hỏi: Không, tôi hiểu điều đó. Nhưng vấn đề mở rộng là liệu chuyện này có biểu thị một yêu sách mà (yêu sách đó) bà tin rằng nên được giải quyết thông qua đàm phán, bà có quan ngại gì về điều này?

Bà Nuland: Tôi không chắc là liệu chúng tôi đã có một dịp để trao đổi với người Trung Quốc. Thẳng thắn mà nói, lần đầu tiên một số chúng tôi biết tới chuyện này là vào dịp cuối tuần qua, khi vài quốc gia bắt đầu từ chối mẫu hộ chiếu kia. Vì thế, với viễn cảnh tấm hộ chiếu đó bị một số nước kia coi là hành động gây hấn, chúng tôi sẽ có cuộc trao đổi về vấn đề này. Nhưng ở góc độ kỹ thuật của việc liệu hộ chiếu đó...
Hỏi: Bà nói rằng sẽ có trao đổi về chuyện này, có nghĩa là bà sẽ đối thoại với người Trung Quốc hay với các nước không chấp nhận hộ chiếu ấy?

Bà Nuland: Không, tôi cho rằng chúng tôi có thể sẽ trao đổi về việc điều này (việc in hộ chiếu) bị một số nước coi là khó chấp nhận.
....
Hỏi: Bà có cho rằng về phía Trung Quốc, thì đây là một động thái gây hấn bởi nó liên quan tới một số nước láng giềng, trong đó có Ấn Độ và các nước khác trong khu vực?

Bà Nuland: Quan điểm của chúng tôi về việc giải quyết vấn đề biển Đông, lập trường của chúng tôi về vấn đề biển Đông không có bất cứ thay đổi nào xuất phát từ chuyện này.

Hỏi: Và bà có quan tâm tới vấn đề là liệu hành động đó (phát hành hộ chiếu - ND) có thể làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, vốn là điều mà bà lâu nay luôn muốn tránh?

(Bà Nuland không trả lời câu hỏi này và cuộc họp báo chuyển sang vấn đề hoàn toàn khác)

25.11.12

Cần quyết liệt hơn

Tôi đọc được cái này:
"Mối nghi ngờ này đã được chúng tôi nêu ra ngay từ chiều 22/11, khi điểm tin khẩn trên trang báo mạng đầu tiên vừa đưa nội dung phản ứng của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN. Kế đó, liên tục trong các bình luận của các ngày 232425, chúng tôi cũng đã tiếp tục nêu những biểu hiện không bình thường trong phản ứng của chính quyền VN
Liệu đã có chuyện giấu nhẹm từ nhiều tháng qua tình trạng người TQ nhập cảnh VN mang theo “hộ chiếu lưỡi bò”, chỉ đến khi báo chí phương Tây đề cập mới vội vàng “phát ngôn”, rồi nhá thông tin cho báo Tuổi trẻ về 111 trường hợp bị xử lý ở Lào Cai và không rõ bao nhiêu trường hợp ở Móng Cái, để rồi liên tiếp trong 3 ngày qua, tất cả các báo đã xài lại món “thuốc giảm đau” này với tâm trạng hỉ hả?"

Tuy nhiên, nếu là giấu nhẹm thì đâu chỉ có chính quyền Việt Nam, mà cả Philippines, Ấn Độ cũng chỉ mới lên tiếng và hành động trong mấy ngày qua (sau đại hội võ lâm Trung Nam Hải). Vậy thì nguyên do là gì?

Thực ra, chuyện này Trung Quốc đã lặng lẽ tiến hành từ hồi tháng 4. Những hình "lưỡi bò", (có nguồn nói rằng có cả Senkaku\Điếu Ngư), Aksai Chin... đều được in rất mờ, rất nhỏ nên nếu cơ quan kiểm tra không để ý, không nhạy cảm thì dễ dàng "cho qua". Có thông tin nói rằng Trung Quốc đã cho in khoảng 6 triệu cuốn hộ chiếu loại này. Nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả những người sở hữu hộ chiếu mới đều đã dùng chúng để xuất ngoại, và chỉ một phần trong số những người xuất ngoại là đến các nước bị ảnh hưởng bởi những hình ảnh trên hộ chiếu. Thế nên, tỷ lệ "lưỡi bò" trên tổng số tất cả những người Trung Quốc qua cửa khẩu Việt Nam chắc cũng không nhiều.

Đến sau đại hội đảng và sau khi căng thẳng Senkaku lắng dịu, Trung Quốc mới bung ra một cách rầm rộ nên các nước mới lưu ý và phản ứng mạnh mẽ. Riêng phía Việt Nam thì đã biết và đã có chuẩn bị trước. Cụ thể là ngành xuất nhập cảnh đã tập huấn cho nhân viên và in mẫu thị thực rời. Thế nên sau khi thông tin này bung xung ra, kèm theo thông điệp phản đối của Bộ Ngoại giao là các cửa khẩu cũng ngay lập tức thực thi chính sách "thị thực rời" ngay. Không có chuẩn bị trước thì làm sao phản ứng nhanh như vậy được? 

Bữa giờ có một nhầm lẫn của báo chí. Ngay khi vụ hộ chiếu "lộ hàng", một số báo trong nước cho biết biên phòng cửa khẩu ở Lào Cai đã "đóng dấu hủy" lên hộ chiếu Trung Quốc, sau BBC theo đó mà bàn thành ra còn sai hơn nữa. Thực tế khác hoàn toàn. Về mặt nguyên tắc, nếu Việt Nam không chấp nhận hộ chiếu do nước nào đó phát hành, thì có quyền cấm công dân nước đó nhập cảnh. Nhưng hủy hộ chiếu của người ta thì không được. Nếu hộ chiếu là giả mạo, thì anh có thể tạm giữ cả người lẫn hộ chiếu để điều tra. Nhưng đây là hộ chiếu thật, nên không thể hủy. Cái vụ hủy ở Lào Cai thì là xuất phát từ cái sai sót của biên phòng Việt Nam. Đó là ban đầu phe ta không phát hiện ra đường lưỡi bò, nên đóng dấu lên hộ chiếu. Đến khi phát hiện ra, thế là họ đóng dấu hủy. "Hủy" ở đây tức là vô hiệu hóa cái dấu mà họ (cơ quan cấp thị thực hoặc cơ quan xuất nhập cảnh) đã đóng trước đó, tức thu hồi một quyết định sai của chính mình, chứ không phải hủy hộ chiếu của người nước ngoài. Thế nên, các anh biên phòng Lào Cai thực ra không đáng khen như chúng ta tưởng. 

Phản ứng của các bên:
Philippines phản ứng khá mạnh: bao gồm phản ứng từ chính phủ và các nghị sĩ. Quan chức cấp cao nhất từ chính phủ Philippines phản ứng là ông Bộ trưởng ngoại giao, theo tôi được biết. Tổng thống Aquino III hình như chưa nói gì. Tuy nhiên, trong khi lên tiếng khá chi là đanh thép, thì chính quyền Philippines dường như lại rất bị động. Họ thừa nhận rằng thủ tục nhập cảnh đối với người mang hộ chiếu đường lưỡi bò của Trung Quốc vẫn được tiến hành bình thường

Ấn Độ làm mạnh nhất: Một mặt phản đối bằng lời, mặt khác in thị thực rời kèm theo thông tin về lập trường chủ quyền của Ấn Độ.

Việt Nam thì làm gần bằng Ấn Độ: Một mặt phản đối, mặt khác cơ quan xuất nhập cảnh Việt Nam cấp thị thực rời, một sự biểu thị rằng họ không chấp nhận hộ chiếu đường lưỡi bò. Như vậy cũng tạm được, nhưng tôi nghĩ là cần phải quyết liệt hơn. Tôi nghĩ là trên thị thực rời, chính quyền Việt Nam cần in những dòng thông báo: "Người mang thị thực này, một khi nhập cảnh vào Việt Nam, có nghĩa vụ chấp hành luật pháp Việt Nam, tôn trọng lập trường Việt Nam về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, trong đó có chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng những quyền khác đối với những vùng biển cụ thể ở biển Đông". Còn hộ chiếu có in đường lưỡi bò thì bỏ vào phong bì, niêm phong lại, đến khi xuất cảnh thì người mang hộ chiếu đường lưỡi bò phải trình phong bì niêm phong ra. Các phí tổn liên quan đến những thủ tục phát sinh này đều do công dân Trung Quốc chi trả. Để tránh làm phiền người nhập cảnh thuộc các quốc tịch khác (mất thời gian), ở các cửa khẩu lớn có thể thiết lập cổng riêng cho người Trung Quốc, với những thông báo rõ ràng về hộ chiếu vi phạm và lý do tại sao phải lập cổng riêng. Phải đi theo cổng riêng bởi sự tham lam của chính phủ là nỗi hổ thẹn của mỗi một công dân Trung Quốc cầm hộ chiếu lưỡi bò.  
Trong phản ứng của Việt Nam, đối chiếu với các nước khác (cụ thể như Philippines), có thể dễ dàng nhận thấy tính độc lập của các nghị sĩ ở ta và ở bển thế nào. Trong khi các nghị sĩ Philippines có thể lên tiếng ngay tức thì, dõng dạc và quyết liệt, thì các nghị sĩ Việt Nam dường như vẫn còn đọc báo hoặc ngó ngang ngó dọc, ngó trên ngó dưới. Tính độc lập - độc lập với chính phủ và độc lập với truyền thông, công chúng - của nghị sĩ bên ta rất kém.

Đài Loan có chửi Trung Quốc vài phát khá mạnh, nhưng tính chất của việc chửi có thể nói là khác với các bên khác.

Nhật Bản thì đến nay vẫn chưa có động thái gì, dù có thông tin cho rằng quần đảo Senkaku\Điếu Ngư cũng nằm đâu đó trên hộ chiếu điện tử của Trung Quốc (một số nguồn khác thì nói rằng không có). Mà cái vụ mờ nhân ảnh này càng tôn vinh hành động mờ ám, bất chính, thậm thà thậm thụt của Trung Nam Hải.

Cập nhật 1: Những đề xuất trên của tôi đều đi ngược lại với tinh thần tinh giản các thủ tục của chính quyền. Tuy nhiên, đây là một ca đặc biệt nên phải coi là ngoại lệ.


Cập nhật 2: Thấy bên bác Ba Sàm nói là mẫu thị thực rời này đã có hàng chục năm. Vậy đây là một sai sót của tôi. Rất xin lỗi các bạn đã lỡ đọc. Còn bác thắc mắc "sao lại không đăng lên Thanh Niên?", thì xin giải thích thế này: ở blog cá nhân tôi chỉ dám ghi lại những nhận định của cá nhân mình, nhân danh cá nhân và cá nhân tôi chịu trách nhiệm. Các nhận định này có thể chưa được thông qua quy trình kiểm chứng, thẩm định đúng mức mà một tờ báo phải có. Người đọc blog cá nhân cũng sẽ với một tâm thế là đang đọc sản phẩm của một cá nhân, không phải một tập thể tờ báo. Thái độ và mức độ tiếp nhận của họ sẽ khác nhau. Chính vì thế mà, dù không bao giờ nặc danh, tôi cũng luôn tránh xưng danh nhà báo ở đây, một phần cũng để tránh những tác động tới tâm lý người đọc (kiểu như người ta dùng giả dược trong thí nghiệm y khoa để loại trừ tác động của yếu tố tâm lý).

22.11.12

Hộ chiếu lưỡi bò Trung Quốc

Sau khi Đại hội Đảng diễn ra êm xuôi và tranh chấp ở Senkaku/Điếu Ngư xem chừng hạ nhiệt, Trung Quốc đã công bố rộng rãi việc "đính" bản đồ đường lưỡi bò vào hộ chiếu điện tử của công dân nước họ. Trước đó, thông tin này cũng đã được họ đưa ra, nhưng ở một tầm mức thấp hơn nhiều.

Bước đi của Trung Quốc đã bị Việt Nam và Philippines phản đối.

"Việc làm của phía Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan ở Biển Đông", người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị nói trong buổi họp báo hôm 22.11. Một số người Việt Nam tỏ vẻ bi quan, cho rằng đó là phản đối suông, nhưng làm sao có thể kết luận nhanh như thế được?

Phản đối bằng miệng là điều cần phải có, đầu tiên và trước nhất. Tác dụng của nó thì nhiều. Ở mức thấp nhất, ít ra thì nó có thể cho thấy được lập trường không từ bỏ chủ quyền, không nhượng bộ của một nước. Đấy là một cơ sở cho các đối sách về lâu về dài.

Đối với một vấn đề như vụ hộ chiếu lưỡi bò, phản đối ở cấp Bộ Ngoại giao là biện pháp có thể và cần được thực hiện sớm nhất, gần như ngay tức thời. Kiểu như trong trị thương thì đây là bước là sơ cứu. Sơ cứu không làm lành được vết thương, nhưng ít ra giúp bệnh nhân cầm cự cho tới lúc được đưa vào phòng cấp cứu bệnh viện. Phản đối của Bộ Ngoại giao cũng vậy, là giải pháp tình huống và tức thời, trong khi các giải pháp sâu rộng và căn cơ hơn đang được xem xét. Điều đáng tiếc duy nhất, của tôi, trong động thái của Bộ Ngoại giao chính là việc ã gặp đại diện đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để trao công hàm phản đối, đồng thời yêu cầu phía Trung Quốc hủy bỏ những nội dung sai trái". Gặp và trao có vẻ rất yếu, tôi nghĩ trong một vụ việc như thế này, "cho mời Đại sứ Trung Quốc" là một động thái thích đáng hơn. Ở đây, vẫn như mọi khi, Việt Nam như một gã dân đen vác đơn đi kiện. Không biết đại diện Việt Nam có gặp được ông đại sứ hay không, hay chỉ là nhân viên tiếp nhận hồ sơ?

Nhưng thôi, chuyện đã rồi, tạm thời coi nó là tiểu tiết. 

Quan trọng hơn, đó là sắp tới đây, Việt Nam sẽ triển khai những đối pháp gì? Tôi nghĩ, tiếp theo, cần thiết phải có một chiến dịch tạo dư luận sâu rộng. Lời nói, nhiều người cho rằng chỉ là "suông", nhưng thực ra nó có một sức mạnh to lớn. Nếu lời nói được bảo trợ bởi những cơ sở lý luận vững chắc, thì sức mạnh của nó càng tăng tiến đến vô cùng. Không phải vậy thì chúng ta, những blogger, suốt ngày lên mạng và viết lách làm gì? 

Vậy thì, chiến dịch tạo dư luận sẽ được thực hiện bằng cách nào? Ví dụ, có thể thực hiện các cuộc trả lời phỏng vấn của đại diện Bộ Công an phụ trách xuất nhập cảnh, trong đó đưa ra thông điệp kiểu như "Việt Nam kiên quyết không cho du nhập những tài liệu vi phạm chủ quyền", "bất cứ ai mang theo tài liệu có chứa thông tin vi phạm đều sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam"... Các hiệp hội du lịch, khách sạn... tuyên bố rằng họ không chấp nhận các hộ chiếu đường lưỡi bò trong các hoạt động và tại các địa điểm do mình quản lý. Các hãng vận tải hành khách thì từ chối chuyên chở những người mang hộ chiếu đường lưỡi bò...

Một trong những động thái được mong mỏi nhất, nhưng ít có khả năng xảy ra nhất, đó là phát ngôn từ chính Chính phủ Việt Nam, chứ không phải chỉ dừng ở cấp ông Lương Thanh Nghị như truyền thống. Nếu mà nhân vụ này, Thủ tướng Dũng chính thức lên tiếng thì chắc chắn dân Việt sẽ từ ghét... mà chuyển sang yêu. Một đòn nội công ngoại kích rất chi là hữu dụng. Tôi cho rằng, bởi vì Trung Quốc đã thực hiện một bước đi không có tiền lệ, thì phía Việt Nam cũng cần đưa ra một phản ứng ít có tiền lệ. Đó là thông điệp phản đối của người đứng đầu chính phủ, chính thức, mạnh mẽ và càng sớm càng tốt.

Song song với "tạo dư luận", thì cần phải thực hiện các "chiến dịch" ngoại giao. Trước hết là vận động các quốc gia ASEAN không chấp nhận hộ chiếu đường lưỡi bò. Một cách tức thời và dễ hiểu thì Philippines đã phản đối, vì họ cũng cảm thất bị tổn thương như phía Việt Nam. Xa hơn một chút, Malaysia, Indonesia và cả Brunei nữa cũng nằm trong nhóm "nguy cơ cao" nên khả năng họ không chấp nhận bản đồ đường lưỡi bò trên hộ chiếu Trung Quốc là điều gần như chắc chắn. Các nước khác ít hoặc không bị ảnh hưởng thì cần vận động nhiều hơn, cho họ thấy rằng đường lưỡi bò chỉ là một trong những bước leo thang bành trướng của Trung Quốc. Sau khi đã độc chiếm biển Đông, Trung Quốc sẽ còn tiến xa hơn nữa. Điều đó, Tiến sĩ Dương Danh Huy đã cảnh báo cách đây ít lâu. Tôi nghĩ, đối với những những vấn đề kiểu như hộ chiếu lưỡi bò, ASEAN cần sớm có tiếng nói chung. Ngay cả những nước nằm xa biển Đông như Myanmar thì cũng cần tham gia vào nghị trình chung. Trong thời gian hiện tại, một quan chức ngoại giao Việt Nam đang nắm giữ chức vụ Tổng thư ký ASEAN. Việt Nam cần tận dụng vị trí ấy để tăng cường kết nối, tạo sự đồng thuận trong khối. 

Bên ngoài ASEAN, có rất nhiều nước có lý do và động lực để không chấp nhận yêu sách đường lưỡi bò, như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Ấn Độ... Nhưng động thái của họ đối với cái hộ chiếu điện tử đường lưỡi bò của Trung Quốc như thế nào? Tôi cho rằng Việt Nam có thể khéo léo tác động theo con đường ngoại giao để kéo nhiều phản ứng theo chiều hướng chống lại hộ chiếu đường lưỡi bò. Áp lực to lớn và từ nhiều phía có thể khiến Trung Quốc sẽ phải xem lại bước đi của họ.

Đấy là cuộc chiến dư luận, cuộc chiến ngoại giao. 

Trong trường hợp Trung Quốc cứ tiếp tục triển khai hộ chiếu đường lưỡi bò, phản ứng duy nhất của Việt Nam là không chấp nhận hộ chiếu đó. Không chấp nhận bằng cách nào? Giải pháp cấm nhập cảnh, theo tôi, là không thể triển khai trên thực tế. Việt Nam và Trung Quốc ở gần kề nhau, hằng năm có hàng triệu lượt người qua lại có sử dụng hộ chiếu. Bây giờ đóng cửa cái rụp là không thể được, chưa tính tới các hệ lụy về kinh tế, chính trị, ngoại giao xuất phát từ hành động này. Phương cách dễ nghĩ tới nhất, quyết liệt nhất lại không thể thực hiện được. 

Vậy thì phải làm cách khác. Cơ quan cấp thị thực và/hoặc cơ quan xuất nhập cảnh có thể đóng dấu "bản đồ được in ở đây là phạm pháp"  (this page contains illegal figures...) lên hộ chiếu của người Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam? Có thể làm như thế. Và có thể thấy hệ lụy của việc này là, sau mỗi lần tới Việt Nam, công dân Trung Quốc phải đổi hộ chiếu mới. Chứ chẳng lẽ họ lại đem cái dấu "bản đồ này là phạm pháp" đi quảng bá khắp thế giới? Cũng có thể cơ quan cấp thị thực và/hoặc cơ quan xuất nhập cảnh Việt Nam sẽ lập biên bản giữ hộ chiếu đường lưỡi bò lại ở cửa khẩu, sau đó cấp giấy "thông hành tạm thời" cho người Trung Quốc vào Việt Nam. Ở tất cả các cửa khẩu, chính quyền cho dán thông báo với hình hộ chiếu lớn, trong đó ghi rõ bằng nhiều thứ tiếng rằng "Mẫu hộ chiếu này không được chấp nhận tại và vi phạm pháp luật của Việt Nam". 

Quan trọng nhất là rủ càng nhiều nước tham gia càng tốt. Một mình Việt Nam cộng thêm Philippines thì hơi bị lép vế.

Cập nhật: Đến nay thì chưa thấy ông nghị sĩ nào lên tiếng. Có lẽ mấy vị ấy đang đọc báo. Điều này cho thấy tính độc lập (không chỉ với chính quyền, mà độc lập trong tư duy, trong nghiên cứu) của phần lớn ông\bà nghị Việt Nam rất thấp. Họ hầu hết dựa vào thông tin báo chí để phân tích, để đánh giá.

12.11.12

Ý anh Tư là sao?



Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Phê bình đúng thì không nên né tránh



Ngày 11.11.2012: " Chủ tịch nước nhìn nhận: 'Trong năm nay cũng như năm tới, tình hình kinh tế vẫn còn gặp khó khăn, một mặt do sự yếu kém của bản thân nền kinh tế đất nước, của khả năng lãnh đạo quản lý và điều hành, một mặt do tình hình kinh tế thế giới. Công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng Đảng và chính quyền không chỉ có Bộ Chính trị, không chỉ có BCH T.Ư mà phải là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Tất nhiên, người chịu trách nhiệm lớn nhất, cao nhất và nặng nề nhất là chúng tôi'.

Chủ tịch nước nói thêm: 'Đối với những việc chưa làm được, Đảng và nhân dân phê bình thì phải nghiêm túc sửa chữa, không nên né tránh. Chúng tôi mong mỏi bà con cống hiến thêm sức mạnh và trí tuệ, đưa ra những sáng kiến để cùng chung sức xây dựng đất nước phát triển' ".
Ngày 17.10.2012, Chủ tịch Sang cũng nói: “Chúng tôi hiểu tình hình trù úm người tố cáo là rất ghê gớm. Nhưng vì sợ bị trù úm mà chúng ta không tố cáo thì đất nước này sẽ thế nào? Người ta có thể trú úm một người, một nhóm người nhưng không thể trù úm cả dân tộc này”.
"Chỉ có cân nhắc tình hình hiện nay, cân nhắc lợi hại thì quyết nghị là không thi hành kỷ luật. Như vậy không có nghĩa là Bộ Chính trị không có lỗi, không phải là cá nhân đồng chí ‘X’ không có lỗi.”

Tức là sao hả anh Tư?

13.8.12

Chán như con gián

(Cảnh báo: Tít bài viết chỉ nhằm mục đích câu khách, có thể không liên quan đến nội dung)

------------------

Bất chợt tôi gặp bài thơ này - Ngươi là ai mà không tán thành Luật Biển? - của một bác tiến sĩ.

Phải nói là tôi giật mình trước những cú đấm túi bụi của tiến sĩ - tác giả bài thơ đanh thép trên. Tôi băn khoăn: Tại sao một nghị sĩ thực hiện một cái quyền hợp pháp của mình lại bị tấn công kinh khủng như thế, ở đất nước đang đói khát dân chủ này?

Và, ông bị tấn công bởi một tiến sĩ.

Tôi thấy ở đây, tác giả bài thơ là một dạng mà bác V.Q.H.Nhiên đã định nghĩa trong bài Cực đoan nhà nước và cực đoan tư nhân: Ai có quan điểm trái ngược ta là kẻ thù của ta.

Thế thì nói gì tới đa nguyên, tới dân chủ, tới tự do nữa.

Dẹp hết đi và trở về bóng tối.
...

Tôi cũng vừa đọc xong luật Biển, dù cái sự hiểu thì chưa thể xong được.

Nói chung, để hiểu luật Biển, cần phải nghiên cứu 208 trang của Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), trong đó có 320 điều và một mớ phụ lục. Bởi lẽ những quy định ở luật Biển phải tuân thủ UNCLOS 1982, không được phép mâu thuẫn, vượt quá giới hạn của UNCLOS 1982. Điểm mấu chốt khi soạn luật Biển là, có những nơi mà UNCLOS 1982 quy định chung, thì Việt Nam phải làm sao diễn dịch theo hướng vừa hợp lý, vừa đảm bảo lợi ích tốt nhất cho Việt Nam. Chuyện này là khó nhất, còn những cái mà UNCLOS 1982 đã nêu rõ ràng rồi thì chẳng có gì phải lăn tăn cả.

Ví dụ, UNCLOS quy định quyền tự do đi lại (bao gồm tàu nổi, tàu ngầm, đặt cáp ngầm và vật thể bay...) không gây hại với những tầng mức khác nhau, tùy theo đó là vùng lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), thềm lục địa. UNCLOS quy định vậy, nghĩa là luật Biển Việt Nam không thể cấm tàu bè  và máy bay (kể cả quân sự) nước ngoài vi vu trên vùng EEZ của mình. Luật Việt Nam chỉ có thể diễn dịch một số thứ: chẳng hạn như không gây hại là phải như thế nào, muốn đi phải xin phép thế nào... chứ không thể cấm tiệt.

Điều này có nghĩa là gì? Liệu điều đó có phải là: tàu hải giám, tàu hải quân, máy bay tuần thám Trung Quốc có thể vù trên đầu, lướt qua xung quanh các cơ sở kinh tế của Việt Nam trong vùng EEZ Việt Nam, chỉ với một số điều kiện phải tuân thủ: chẳng hạn như không giương súng, không quấy rối (xịt nước, chiếu đèn pha trực diện... như đã từng)?

Chỉ một ví dụ đơn giản vậy thôi cũng đủ thấy việc diễn dịch UNCLOS 1982 làm sao có lợi cho Việt Nam nhất, giảm nguy cơ tới mức thấp nhất, để cụ thể hóa nó vào một văn kiện luật chỉ gồm 9.211 từ bao gồm cả "cộng hòa xã hội...", là vô cùng nan giải và không phải là không có chỗ này, chỗ kia còn thiếu chặt chẽ, còn cần phải được góp ý, hoàn thiện trong những lần điều chỉnh sau.

Các công ước quốc tế luôn có lợi cho kẻ mạnh. Khi luật pháp không còn có lợi cho kẻ mạnh, thì chúng sẽ gây sức ép để thay đổi luật. Những kẻ yếu biết vậy, nhưng không còn cách nào khác là phải bám víu vào luật. UNCLOS 1982 không là ngoại lệ. Văn kiện này được sinh ra để điều chỉnh biên độ luật biển của các nước thành viên, làm cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp trên biển. Tuy nhiên, không thể nhầm lẫn rằng văn kiện này bênh vực nước nhỏ. Nó chỉ là một chiếc phao cứu sinh mà các nước nhỏ buộc phải bám vào, vì không có lựa chọn nào khác, để giảm thiểu sự chèn ép của nước lớn. Nước lớn thì chỉ ký vào công ước quốc tế khi văn kiện đó có lợi cho chúng. Bằng không thì chúng chẳng cần luật làm gì, tự chúng sẽ "hành luật" theo kiểu của chúng, như bác Đông A phân tích ở đây.

Một ví dụ: có thể thấy điều khoản về "đi lại không gây hại" trong UNCLOS 1982 mang về nhiều lợi ích cho Trung Quốc hơn là cho Việt Nam, đó là trong khi tàu bè, máy bay của các lực lượng chấp pháp Việt Nam khó có thể (không dám, không đủ xăng...) để đi vào EEZ Trung Quốc vài ngày một lần thì Trung Quốc có thể tận dụng điều này để thăm viếng EEZ Việt Nam mỗi ngày vài lần mà Việt Nam chẳng thể cấm.

Lòng vòng như vậy để thấy rằng, việc ra mắt luật Biển là một nỗ lực lớn trong công cuộc bảo vệ chủ quyền đất nước của Việt Nam thông qua việc thể chế hóa hầu hết các ý chí chủ quyền, trong đó có vấn đề mấu chốt: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng đồng thời, cũng cần phải nhận thấy rằng luật Biển không đơn thuần chỉ là "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam", mà còn nhiều điều khoản khác, với sự phức tạp về pháp lý rất cao, chứ không đơn thuần là những tuyên bố chính trị. Ở chỗ này, chỗ kia, luật Biển có thể còn những điều phải bổ sung, hoàn thiện. Thế nên, trong khi dân chúng ủng hộ luật Biển chủ yếu bởi góc độ chính trị của nó, thì từ góc nhìn của nhà lập pháp, một nghị sĩ có thể bỏ phiếu chống luật Biển.

Ông ta bỏ phiếu chống (hoặc trắng, cứ giả sử như vậy đi, ở đây tạm thời loại trừ khả năng ông ta bị bệnh đột xuất hoặc những cơ chế bỏ phiếu đặc thù của Quốc hội Việt Nam) không nhất thiết là ông ta chống lại lập trường "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam". Ông ta có thể là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống thật, nhưng cũng có thể ông ta có những lý do khác. Ông ta có thể chống sự ra đời của luật Biển bởi ông ta không đồng tình với một số điều khoản nào đó, ông ta muốn nó được hoàn thiện hơn, hoặc ông ta cho rằng thông qua văn kiện này trong bối cảnh hiện nay là không có lợi, hoặc bất kỳ lý do nào khác mà một nhà lập pháp có thể nghĩ tới.
---
Quan trọng hơn hết, như đã nói ở phần đầu, ông ta đã thực hiện sự phản đối của mình bằng một hành vi đúng pháp luật, nếu như không muốn nói là cần khuyến khích trên tinh thần dân chủ, đa nguyên. Nếu lá phiếu của ông ta đi ngược lại với sở nguyện của những cử tri đã bỏ phiếu bầu ông ta, thì chính những cử tri đó sẽ phế truất người mà theo họ là không còn xứng đáng đại diện cho mình nữa.

Bản chất xã hội luôn đa nguyên, "năm người mười ý", không bao giờ có một sự đồng thuận tuyệt đối. Quốc hội cũng rứa, nếu như quốc hội ấy thực sự dân chủ.

Trong một nghị viện dân chủ thực sự, thật khó mà có một tỉ lệ phiếu 100% thuận, hoặc 100% chống. Trong khi đó, cái tỉ lệ này từng là một điều gì đó rất quen thuộc ở Việt Nam, và chúng ta đều biết rằng đã có một sự dàn xếp phi dân chủ trước các cuộc bỏ phiếu. Vậy mà, khi một nghị sĩ dùng quyền bỏ phiếu của mình để chống lại một dự luật lại bị tố là Việt gian. Bị chụp mũ cái rụp vậy, chứ không phải bằng những lập luận để thuyết phục ông nghị sĩ kia rằng ông bỏ phiếu chống là sai, là cả nghĩ, là thấy ngắn mà không thấy dài, thấy tiểu tiết mà không thấy tổng thể.

Nếu cứ "mần chắc" kiểu này, thời kỳ đấu tố sẽ tiếp diễn ở tương lai.

Còn ước nguyện dân chủ - đa nguyên thì, đừng hòng!

11.8.12

Người Việt Nam nhược tiểu đang rất lo sợ mình bị biến thành nước Lào...

Người Việt thì luôn luôn trịch thượng với Lào, dù ngoài mồm cứ gọi là "anh em hữu nghị". Chuyện này không phải mới.

Thuở xưa, các vua xứ Đại Việt hễ mỗi lần rảnh tay rảnh chân (tức không bị Tàu quýnh) là y như rằng sẽ xách quân đi thảo phạt Ai Lao chỉ với lý do: "Sao lâu rày không thấy chú mầy cống nạp?"

Người Việt có thứ gì xấu xa cũng đều đổ vấy cho Lào.

Ấy vậy mà bây giờ đây, những người Việt kiêu hãnh lại đang tỏ ra, hơn bao giờ hết, sợ mình trở thành một nước Lào thứ hai của xứ Đông Nam Á.

"Nước Lào thứ hai" có nghĩa là quốc gia không có biển.

Liếc qua facebook hoặc các blog một lượt, chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp không biết cơ man nào là status, là entry, là câu chú thích ám ảnh (hay cám cảnh): "Mình dẫn con đi tắm Vũng Tàu đây, kẻo nay mai muốn tắm lại phải xin visa"; "Mình tranh thủ ăn hải sản đây, kẻo mai..."; "Mình mua rượu hải mã để dành đây, kẻo mai...".

Những than thở đẫm mùi nhược tiểu này, trong thời buổi hiện nay, lại đang được hiểu, một cách phổ biến, là nỗi niềm vì vận mệnh Tổ quốc. Cách đây ít lâu, thuở năm ngoái năm kia gì đó, thậm chí có anh trí thức còn ưỡn ngực ra trên blog. Anh ưỡn ngực, chỉ bởi trên chiếc án thun của anh có dòng chữ: "Ngày mai không biết có còn được ăn cá biển Đông hay không?".

Cũng có một dạng thức khác, nơi mà những trở trăn biến thành lạc quan hài: "Các chú chớ quá lo mà tổn thọ, mai này mua đồ biển Tàu Khựa có khi lại rẻ hơn"...

Thế đấy!

Hôm nọ hôm kia, thằng bạn ngang ngạnh của mình đã quất thẳng vào mặt một tâm hồn trăn trở vì vận nước (cũng bạn mình nốt), rằng: "Tại sao mày nhược tiểu thế? Sao lại phải nghĩ tới chuyện xin visa mà không dám quyết rằng bất cứ thằng nào bén mảng tới đây là tao đánh cho chạy mất dép?". Tâm hồn ưu tư mới trợn trừng mắt, rồi cười khinh khỉnh: "Mày đừng có lạc quan tếu. Vận nước đang đến hồi nguy nan. Mày ngồi trong phòng lạnh thì biết đéo gì". Thế là thằng bạn ngang tàng của mình phải ngậm tăm, tự biết rằng trình trăn trở và yêu nước của mình chưa đủ level.

Một không khí bi ai, bi quan và bi đát có thể nói là đang lan tỏa khắp đất nước, đậm đặc hơn là ở trên mạng.

Đến đây mình chợt nhớ tới sự kiện Buffet Saigon. Trong một bữa buffet tối ở một quán hải sản khá sang trọng giữa nơi từng là Hòn ngọc Viễn Đông, những con người khá nhiều tiền và có vẻ ngoài lịch lãm đã lao vào, xâu xé, kêu réo, chỉ để giành lấy cho mình vài con tôm sống, một khoanh mực ống hay vài chú hàu sần sùi mà người phục vụ mới đem tới. Nhiều em thủy tộc nhỏ bé thậm chí chưa kịp hạ cánh xuống khay đã được những đôi tay nhanh nhảu đón lấy.

Thiên hạ bên ngoài được một phen dè bĩu: "Ăn uống hay ăn cướp vậy bây?"; "Một lũ đói năm 1945!"; "Thật là vô văn hóa quá đi!"... Người Sài Gòn từng khinh bỉ cảnh dân Hà Nội cháo chém phở chửi, ngắt nhành hoa anh đào..., bây giờ đây được một phen e lệ đến bẽ bàng: "Sài Gòn mà như thế này ư?!". Có người lại AQ chính truyện: "Đó là dân du lịch đấy, từ tỉnh lên, từ Bắc Giang, Lào Cai vào, đếch phải dân Sài Gòn của tao!".

Có một điểm chung là, tất cả những người bình phẩm đều tin chắc 100%, rằng mình sẽ không làm như thế. Bởi, mình văn minh, lịch sự, văn hóa có thừa. Mình thanh cao.

Ai cũng thanh cao cả, vậy thì những người hồn nhiên trong sự kiện Buffet Saigon ấy đến từ đâu? Câu hỏi lớn này, bản thân mình chưa có lời đáp.

Tuy nhiên, có một điều ẩn chứa đằng sau bữa buffet bão bùng đó mà người ta ít để ý mổ xẻ. Đấy chính là nỗi ám ảnh về biển, chính xác hơn, là nỗi ám ảnh mất biển.

- Gắp chú tôm hùm kia lẹ lên con, kẻo mai mốt phải ăn hàng đông lạnh nhập khẩu made in China đấy!

- Ẻm mực trứng cuối cùng còn mang quốc tịch Việt Nam kìa, nhanh tay lên cưng!

- Ui chao, cá mú Trường Sa đó anh, gắp lẹ kẻo vào tay thằng hàng xóm giờ*!...

Vân vân...

Trong bữa tiệc hôm ấy, những mệnh lệnh như vầy đã không ngừng vang lên. Tin hay không, tùy bạn.

Niềm trăn trở trước vận nước bỗng chốc biến thành một cơn quay cuồng nơi bàn tiệc. Nếu nhìn từ góc độ này, sẽ dễ thấy rằng cuộc truy hoan tưng bừng rộn rã kia là một cơn thăng hoa của những ưu tư về biển đảo Tổ quốc, nói trắng ra là của lòng yêu nước.

Cơn cuồng loạn ấy không phải là biểu hiện của văn hóa suy đồi. Hãy tự hào về nó!
--------------

* Hàng xóm có thể được hiểu là Tàu Khựa hoặc đơn giản là cái thằng háu ăn đang đứng bên cạnh, hehe!

10.8.12

Lý Chuẩn cùng đội tàu của Trung Quốc đã làm gì ở Hoàng Sa vào năm 1909?

Bản đồ do người Hà Lan vẽ cuối thế kỷ 16, cho thấy Hoàng Sa thuộc Việt Nam

Sử sách Trung Quốc có ghi lại sự kiện đô đốc Lý Chuẩn được lệnh ra "Tây Sa" vào năm 1909. Chuyến đi này được gọi là "thị sát Tây Sa". Mạng của Bộ Đối ngoại Đài Loan thì viết: "Năm 1909, Thống đốc Trương Nhân Tuấn của tỉnh Quảng Đông sai vị phó của mình là tướng Ngô Kính Vinh cùng một hải đội 170 người ra khám phá quần đảo. Họ đã thượng quốc kỳ ở đấy." Tức là, theo tài liệu của Trung Quốc và Đài Loan, thì vào năm 1909, hai vị tướng Trung Quốc là Lý Chuẩn và Ngô Kính Vinh đã ra Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) để "thị sát" và "thượng kỳ" (có nơi còn thêm chi tiết "bắn súng").

Theo sử sách và các bản đồ Trung Quốc, thì trước năm 1909, Trung Quốc chưa biết gì về Hoàng Sa, chứ đừng nói tới Trường Sa rất xa ở phương nam. Giới hạn xa nhất về phía nam của đất nước Trung Quốc là đảo Hải Nam, như đã thể hiện trên nhiều tấm bản đồ thời Thanh. Nói hết vấn đề thì rất phức tạp và mình không đủ khả năng. Ở đây chỉ đặt ra một dấu hỏi: Năm 1909, Chuẩn và Vinh đã ra Hoàng Sa làm gì?

Báo Tuổi Trẻ mới đây khi viết về chuyến đi của Lý Chuẩn đã nhận xét rằng: "Đó chỉ là chuyến đi mang tính chất “cưỡi ngựa xem hoa”, không hề lưu dấu hay để lại một dấu tích hoặc luận chứng lịch sử cụ thể trên những điểm mà họ đi qua.“ Tức là Chuẩn (và Vinh) chỉ ra hóng hớt một chặp rồi về, chẳng có ý khẳng định chủ quyền gì cả.

Bác Nguyễn Kim cũng viết ở đây: "Có thể khẳng định rằng chuyến “thị sát Tây Sa” của Đô đốc Lý Chuẩn vào năm 1909 không có ý nghĩa pháp lý nào, không phải là hành vi xác lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và càng không thể được coi là chứng cứ chứng minh Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành “quản hạt sớm nhất và thực thi chủ quyền sớm nhất” đối với quần đảo này."

Tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao thì cho rằng Lý Chuẩn khi lên đảo đã bắn pháo và thượng kỳ, thể hiện sự tuyên bố về chủ quyền (như thông tin mà sử sách Đài - Trung đã viết), tức là chuyến đi này không phải "cưỡi ngựa xem hoa". Từ đó, ông Thao chỉ ra: "Sự kiện này cho thấy sự mâu thuẫn trong lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu đời, thì tại sao phái đoàn của Lý Chuẩn lại không biết điều này và hành xử như thể lần đầu tiên phát hiện ra quần đảo?" (Kiểu như Côn Đảo từ lâu đã là của Việt Nam rồi, một hôm đẹp trời nào đó, bác Phùng Quang Thanh đi chuyên cơ ra sân bay Cỏ Ống, thượng cờ rồi bắn đại bác tuyên bố chủ quyền, như vậy thì thật là "quỡn"). 

Nếu như đặt luận cứ của ông Thao vào hoàn cảnh lịch sử là trong giai đoạn đầu thế kỷ 20 (tức là khoảng thời gian Chuẩn ra Hoàng Sa), Việt Nam (thuộc Pháp) đang có chủ quyền trên Hoàng Sa (kế thừa chủ quyền của các đời vua chúa nhà Nguyễn trước đó), thì sẽ thấy rõ ràng Chuẩn đã lần đầu tiên tuyên bố chủ quyền trên một lãnh thổ đã có chủ (Việt Nam), tức hành động tuyên bố chủ quyền đó là phi pháp.

Tiến sĩ Nguyễn Thừa Hỷ, trên mạng của Bộ Thông tin - Truyền thông Việt Nam, cũng viết rằng năm đó Chuẩn ra đảo với ý định tuyên bố chủ quyền (lần đầu tiên).

Tất nhiên là năm đó Chuẩn ra để "cưỡi tàu xem cá" hay là tuyên bố chủ quyền thì đều không thay đổi được sự thực là lúc bấy giờ Hoàng Sa đã thuộc chủ quyền của Việt Nam (từ lâu rồi). Nhưng việc đánh giá đúng bản chất chuyến đi của Chuẩn có thể giúp Việt Nam có nhiều cơ sở vững chắc hơn để bẻ gãy các luận cứ áp đặt của Trung Quốc.